‘Bóng Ma’ Dĩ Văng
vẫn không thôi Ám Ảnh giới Trí Thức và Lănh ĐạoViệt. Đến nỗi để
biện minh cho các Chiêu Bài như Canh Tân, Giải Phóng, họ vẫn Trở
Lại bàn về những Vấn Đề, dùng những Phương Pháp Lư Luận, cũng
như đưa ra những Gỉai Pháp của các thế kỷ Trước . Họ làm như hơn
một thế kỷ trôi qua, không có biến chuyển ǵ quan trọng đă xảy
ra cả! Nói cho đúng, họ có nhận thấy sự thay đổi, rất nhiều thay
đổi là đàng khác nhưng họ chỉ giới hạn sự Quan Sát ở b́nh diện
Thường Nhật hay ở các địa hạt như Chính Trị, Kinh Tế, Xă Hội.,
c̣n nếu có ai ‘dám lân la’ vào lănh vực VĂN HÓA th́ cũng chỉ
dừng lại ở trung tầng Văn Nghệ, Văn Chương, Văn Học…..Hiếm ngưới
t́m cách đi xa hơn và dẫu có người thử làm khác, th́ hầu hết
cũng chỉ đem về một mớ Từ Ngữ, Kiến Thức, Ư Niệm ‘có vẻ mới’,
nhưng trong thực tế ‘mớ Kiến Thức Chết Khô’ đó cũng Chẳng có Ảnh
Hưởng bao nhiêu đến Lề Lối và Nội Dung Suy Tư của họ. Và họ vẫn
tiếp tục Suy Tư về những Vấn Đề với những Phương Pháp và Nội
Dung của các Thế Kỷ Trước. Đúng là con người phần đông, kể cả
giới Trí Thức, sống và Suy Nghĩ với các Định Kiến ‘cũ kỹ’ và Ảnh
Hưởng của VĂN HÓA nếu có thường đến rất chậm!
Nhưng có điều NGHỊCH LƯ sau đây mà hậu quả có thể rất Nghiêm
Trọng là giới Trí Thức nêu trên lại Tưởng ḿnh có Tư Tưởng Mới
Mẻ, là lớp Trí Thức Tiền Phong của Đất Nước đang có ‘Sứ Mạng’
thực hiện một cuộc Cách Mạng Tư Duy, Canh Tân Đất Nước !!!
Nguyên nhân chính yếu có lẽ là v́ những lư do khác nhau, họ
Không Nắm Vững những Khuynh Hướng Chính Yếu của Văn Hóa Thế Giới
Ngày Nay. Do đó họ vẫn c̣n giữ Phản Xạ của lớp Trí Thức Đàn Anh
như nhóm ‘Tự Lực Văn Đoàn’ trước đây là để ‘Cách Mạng’, ‘Canh
Tân’ th́ phải THEO MỚI, mà Theo Mới với họ là đồng nghĩa với
THEO TÂY, theo Tây một cách Quá Khích, Mù Quáng không một chút
cân nhắc!!!
KHI NHÀ CHÍNH TRỊ ĐI ‘LÀM VĂN HÓA’
Đây là trường hợp của một nhà CHÍNH TRỊ CHUYÊN NGHIỆP. Thay v́
sinh hoạt như bao người làm Chính Trị Chuyên Nghiệp khác, người
này nghĩ là phải làm một cái ǵ ‘trội hơn’, ‘nổi hơn’ nhằm gây
sự chú ư của người khác, chứ cứ lập đi lập lại măi các Chiêu Bài
Chính Trị như DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN, H̉A GIẢI H̉A HỢP th́ lâu ngày
các ‘Đồng Hương’ của ḿnh cũng ‘ngán ngẫm’ như phải ăn cơm ‘nếp
tẻ’ mỗi ngày.
Vị này mới có ,sáng kiến’ ghé sang lănh vực VĂN HÓA để mong ‘tô
điểm’ cho ‘sự nghiệp chính trị’ cũng chưa lấy ǵ làm ‘rạng rỡ’
lắm. Nhưng điều khó khăn là về địa hạt sau này th́ trong suốt
cuộc đời hoạt động, h́nh như vị này chưa bao giờ chú ư đến, cũng
như để thời gian đủ hầu sửa soạn một số vốn kiến thức tối thiểu
để làm công việc nêu trên, đặc biệt về lănh vực TRIẾT HỌC th́
đương sự h́nh như có vẻ không có khiếu lắm, nên có lần ‘tâm sự’
cùng với độc giả như sau ‘triết học trừu tượng không phải là sở
thích của tôi’ (2)
Làm sao đây? Không
lẽ đi ‘nhại lại’ BÁ DƯƠNG, tác giả ‘Người Trung Hoa xấu xí’ để
viết một quyển sách tương tự là ‘Người Việt xấu xí’? Làm như vậy
th́ không được ‘oai phong’ lắm, mà trái lại c̣n có thể bị mang
tiếng là ĐẠO VĂN nữạ.
Nhà Chính Trị ‘giàu
sáng kiến’ của chúng ta mới nghĩ ra một ‘kế’ là đi t́m một tác
phẩm có đề tài tương tự đă được viết từ lâu, đă in ra một lần
nhưng chưa được tái bản, ở tận bên trời Tây. để T̀M SÁNG KIẾN
cho ‘công tŕnh vĩ đại’ sắp tới của ḿnh Ngoài ra, để dễ tránh
né ‘búa ŕu dư luận’ và sự ṭ ṃ của độc giả, tác giả lấy cớ là
‘do thời gian eo hẹp, đă tự cho phép bỏ qua phần chú thích sau
mỗi chương’ (3).
Đúng là ‘nhất cử lưỡng tiện’ tha hồ ‘nói hươu nói vượn’ với độc
giả, mà không sợ bị mang tiếng là ĐẠO VĂN! Không may cho tác giả
là t́nh cờ chúng tôi cũng có đọc qua tác phẩm nêu trên nên mới
t́m ra MỎ VÀNG là NGUỒN ‘sáng kiến’ của nhà Chính Trị ‘giàu sáng
kiến’ của chúng ta .(4)
Chúng tôi xin được liệt kê sơ qua dưới đây một số ‘sáng kiến’ và
NGUỒN ‘sáng kiến’ để độc giả có thể so sánh.
A) SO SÁNH NỘI DUNG ‘TỔ QUỐC ĂN NĂN’ VỚI ‘LE MAL FRANCAIS’
1) MỘT DÂN TỘC KHÔNG MAY MẮN
a)‘Sáng
Kiến’ : “Nhân nói về cuộc nam tiến, cũng cần
nhận định rằng lịch sử nước ta có cái ǵ đó thực u uất; trong
suốt quá tŕnh mở nước và dựng nước của ta h́nh như các biến cố
trọng đại lúc nào cũng khởi đầu từ những SỰ KHÔNG MAY.”(5)
b)
NGUỒN ‘Sáng Kiến’: “Có điều tôi thâm tín từ rất
lâu là nước Pháp luôn luôn gặp SỰ KHÔNG MAY.Về những vị anh hùng
mà chúng ta được dạy là phải ngưỡng mộ, th́ không một vị nào
không kết thúc trong t́nh cảnh bi đát hay thất bại, từ
Vercingétorix đến Jeanne d' Arc, từ Henri IV đến Louis XIV, từ
Robespierre đến Napoléon, từ Gambetta đến Clemenceau.”(6)
2) XƯỚNG ĐÁNG VỚI SỐ PHẬN CỦA DÂN TỘC
a)‘Sáng
Kiến’: “Một dân tộc không nhiều th́ ít cũng
xứng đáng với số phận của ḿnh” (7)
b)
NGUỒN ‘Sáng Kiến’: “Plutarque viết là Số Phận của
các dân tộc là kết quả của sự phối hợp giữa Thời Cơ Vận Số và Nỗ
Lực của ḿnh. Nhưng nếu một dân tộc luôn luôn gặp vận xấu, th́
không thể đổ thừa là chỉ do sự không may. Về lâu về dài, phải
chăng một dân tộc xứng đáng với số phận của ḿnh” (8)
3) TÍNH GHEN GHÉT
a)
‘Sáng Kiến’: “Ils ne s'aiment pas” (9)
“Người Việt Nam t́m mọi lư do để ghét nhau”(10)
b)
NGUỒN ‘Sáng Kiến’: “Người Pháp ghét nhau” ( Les
Francais ne s'aiment pas) (11)
“Các nhà quan sát ngoại quốc thường nhận xét là người Pháp có
tính ganh ghét và ‘tố tụng’ ”(12)
4) THIẾU ĐOÀN KẾT QUỐC GIA
a)
‘Sáng Kiến’: “..người Pháp nh́n nhau như những
người Pháp trước khi là người ủng hộ đảng Xă Hội hay đảng De
Gaulle” “Họ là những dân tộc. Hơn hai ngàn năm lịch sử dựng nước
của ta không đem ta lại gần nhau mà c̣n khiến ta thù nghịch với
nhau” (13)
NHẬN XÉT: Có lẽ điều trên không đúng với trường
hợp ngưới Pháp, mặc dầu tác giả người Việt muốn độc giả nghĩ như
vậy, như câu văn trên cho thấy. Lư do là theo tác giả người Pháp
mà đương sự ‘nhại lại’ ư tưởng trên th́ người Pháp trên thực tế,
có thái độ hoàn toàn ngược lại với điều mà tác giả người Việt
vừa tuyên bố ở trên, v́:
b)
NGUỒN ‘Sáng Kiến’: “Về hai nước Pháp nêu trên (tức
hai phe TẢ-HỮU trong xă hội Pháp), họ luôn luôn chống đối nhau ở
mọi b́nh diện, ở mọi biến cố, đối với mọi khủng hoảng xảy ra với
nước Pháp”
.
“Mỗi giai đoạn lịch sử đem lại cho nước Pháp những mầm mống mới
gây ra chia rẽ khiến cho hố ngăn cách có vẻ không thể nào lầp
đầy giữa hai phe TẢ và HỮU..Một chuyển nhỏ nhặt xảy đến, thường
là cái cớ cho sự bùng nổ của vấn đề ‘muôn thuở’ giữa hai phe”
(14)
5) SỰ ĐỒNG THUẬN
NHẬN XÉT:Tác giả thường rất hănh diện với nhóm chữ
‘Đồng Thuận’, cứ có cơ hội là dùng từ này để ‘răn đe’ người
Việt, làm như đó là ‘sáng kiến độc đáo’ của ḿnh.
a)‘Sáng
Kiến’: “Sức khỏe của sinh vật phức tạp đó là đồng
thuận giữa các thành viên. Đồng thuận mạnh, tâp thể mạnh. Đồng
thuận yếu, tập thể yếu. Đồng thuận mất, tập thể tan “(15)
NHẬN XÉT : Cũng như những ‘Sáng Kiến’ khác của tác
giả, th́ ư tưởng gọi là ‘độc đáo’ nêu trên của đương sự cũng
được lấy từ nguồn dưới đây:
Bàn về nỗ lực của một thiểu số người Pháp có thiện chí muốn vượt
qua sự Phân Chia TẢ - HỮU về phương diện Chính Trị đă đưa tới
tinh thần Giáo Điều, t́nh trạng Mẫu Thuẫn, Chống Đối nhau thường
trực trong xă hội Pháp, tác giả người Pháp viết:
b)
NGUỒN ‘Sáng Kiến’: “Tinh thần đó biến những sự bất
đồng ư kiến thay v́ thành một cuộc đối thoại hữu ích, th́ trái
lại là cơ hội cho những tranh chấp mới. Nó làm ‘soi ṃn’ lư
tưởng quốc gia, dân tộc là điều đáng lẽ phải làm nên ‘căn cước
tính’ của người Pháp .V́ nếu thiếu yếu tố nêu trên, một xă hội
«bệnh hoạn» như nước Pháp khó có thể t́m lại được sự ĐỒNG THUẬN”
(16)
6) YẾU ĐỊA LƯ
a)
‘Sáng Kiến’: “Trong khi ở mọi nước phát triển môn
địa lư được coi là tối quan trọng, th́ tại Việt Nam nó lại bị
coi thường quá đáng”. (17)
b)
NGUỒN ‘Sáng Kiến’: “Sự kiện ‘người Pháp yếu về môn
địa lư’ đă trở thành tục ngữ đối với người ngoại quốc. Không chỉ
yếu mà c̣n dửng dưng đối với môn địa lư. Đối với người Pháp, thế
giới bên ngoài không có hiện hữu”.(18)
7) LƠ LÀ CHÍNH TRỊ
a)
‘Sáng Kiến’: Tác giả và những người cùng phe nhóm
thường chê người Việt ‘lơ là’ với Chính Trị
b)
NGUỒN ‘Sáng Kiến’: “À tôi không làm chính trị đâu”: Ngưới
Pháp thường dùng câu này để bày tỏ sự thận trọng của ḿnh đối
với giới chính trị gia, hay sự hănh diện v́ không thuộc về giới
này» (19)
8) TÔN SÙNG BẰNG CẤP
a)
‘Sáng Kiến’: “H́nh như đối với người Việt,
bằng cấp là quan trọng nhất, và một con người trước hết được
đánh giá qua những bằng cấp mà ḿnh có”.(20)
b) NGUỒN ‘Sáng Kiến’:
“Có lẽ không có một quốc gia nào mà bằng cấp được quư chuộng và
giá trị cũng như ảnh hưởng của nó được kéo dài như ở Pháp. Ở Hoa
Kỳ văn bằng Đại học chỉ giúp bạn ở bước khởi đầu » «.Ở Pháp,
bằng cấp là một loại «hỏa tiển tầm xa» thông thường giúp chủ nó
một cách đắc lực trong bước đường công danh cho đến khi măn
phần” (21)
9) CHUỘNG CHIẾN TRANH, TRANH CHẤP, BẠO LỰC
a)
‘Sáng Kiến’: “Sự hấp dẫn của bạo lực đối
với chúng ta quá mạnh. Mạnh đến nỗi ta không những chấp nhận mà
c̣n mơ ước bạo lực. Khi không có bạo lực, ta phải cố bịa đặt để
tưởng tượng là ḿnh có bạo lực”. (22)
“Lịch sử nước ta là một lịch sử đau thương. Đó là một chuỗi
ngoại thuộc và chiến tranh”.(23)
“Hai là nước ta đă được thai nghén trong binh lửa và đó cũng là
một điều không may” (24)
“Chúng ta rất ít có ḥa b́nh và chưa bao giờ có tự do”.(25)
“Thử nh́n những cuộc tranh căi chính trị tại hải ngoại. Chỉ v́
một ư kiến không hợp ư ḿnh, người ta có thể công kích nhau một
cách thậm tệ, dữ dằn. Nếu có binh quyền trong tay chắc chắn là
người ta không ngần ngại tuyên chiến” (26)
“Chiến tranh đă khiến chúng ta trở thành một dân tộc không b́nh
thường”.(27)
b)
NGUỒN ‘Sáng Kiến’: “Trong tất cả các nước ở Âu
Châu th́ Pháp là quốc gia có lịch sử tranh chấp nhiều nhất với
các nước khác. Là quốc gia mà số năm có chiến tranh vượt xa số
năm có ḥa b́nh”.(28)
“Theo tác giả Strabon, ‘dân Pháp là dân có ‘máu’ chiến tranh đến
tŕnh độ không b́nh thường, rất dễ tức giận và thích ấu đả” (29)
“Tính gây hấn của chúng ta được phản ảnh rơ nhất trong các cuộc
Nội Chiến” (30)
“Rất lâu trước cuộc Cách Mạng 1789, các cuộc Bạo Động quần chúng
là một loại ‘Thể Thao’ của dân tộc Pháp..” (31) và “từ hơn bốn
thế kỷ nay Bạo động loại trên xảy ra ở Pháp gấp bội lần ở các
nước tiền tiến khác”.(32)
“H́nh thái Nội Chiến Dă Man, Đẩm Máu nhất của nước Pháp là chiến
tranh Tôn Giáo” (33)
“Ngoài những Kỷ Lục mà người Pháp đạt được về số lần Nội Chiến,
và chiến tranh với các nước khác, nước Pháp c̣n đạt môt Kỷ Lục
khác bắt nguồn từ tính t́nh Gây Hấn thường trực của người Pháp:
tỷ lệ số người bị tai nạn lưu thông trên dân số nước Pháp là cao
nhất. Và lư do chính yếu thuộc về lănh vực Tâm Lư” (34)
“Tính Gây Hấn của người Pháp c̣n được thể hiện về mặt Kinh Tế
qua các cuộc Tranh Chấp ở lănh vực Lao Động với các cuộc Đ́nh
Công có tính chất Bạo Động xảy ra thường xuyên” (35)
10) THẦN TƯỢNG LÀ VƠ TƯỚNG
a)
‘Sáng Kiến’: “Nhưng mẫu số chung giữa các vị anh
hùng này vẫn không đổi: tất cả đều là vơ tướng” (36)
“Như thế anh hùng của Việt Nam bắt buộc phải là vơ tướng, và hơn
nữa phải thắng trận” (37)
“Nguyễn Huệ xuất thân là tướng cướp...Ông là người đặc biệt hung
tợn và hiếu sát. Sự nghiệp ông là những trận đánh khốc liệt”
(38)
“Việc ông được tôn sùng quá đáng tố giác một tâm lư kinh sợ bạo
lực của người Việt Nam; việc người ta tô vẽ cho ông những đức
tính ông hoàn toàn không có như giỏi trị nước an dân, có ḷng
nhân ái, “ “..chứng tỏ rằng ta tôn sùng bạo lực tới độ ta sẵn
sàn làm đẹp nó”
“H́nh như ta c̣n cho rằng chỉ có những chiến công mới là đáng
kể, những ǵ đạt được phải đạt bằng bạo lực mới là hay.” (39)
NHẬN XÉT: Đối với giới Sử Gia, nhân vật tương
đương (trên bề mặt thôi v́ trong thực chất họ rất khác nhau) với
vua Quang Trung trong Sử Việt là vua Louis XIV hay Napoléon
trong Sử Pháp.
b)
NGUỒN ‘Sáng Kiến’: “Đối với hầu hết các sửï gia
ngoại quốc, vua Louis XIV của Pháp không có dự án lớn lao nào
khác là đánh ngă quỵ các ông Hoàng và các nước khác ở Âu Châu
thời đó. Mục tiêu chính yếu là làm sao tất cả vua chúa của Âu
Châu thời này phải thần phục trước ông «Vua Mặt Trời»
(Roi-Soleil). Mục tiêu trên khiến cho cả Âu Châu thời trước đâm
ra ghét nước Pháp.” (40)
“De Gaulle được nuôi dưỡng trong bầu khí văn hóa mà h́nh ảnh về
một ‘Đại Thế Kỷ’ (Grand Siècle), về một vị ‘Vua Vĩ Đại’ (Grand
Roi) mà giới Sử gia Pháp cho đến gần đây, muốn đưa vào đầu óc
của người dân Pháp…..”
“Nhưng đó là một ‘ảo tưởng’ !. Lư do là lịch sử nước Pháp ‘thành
văn’ thực ra chỉ là lịch sử xoay quanh thủ đô Paris.”(41)
“ Một vài chứng nhân kín đáo nhưng hữu hiệu trong nhận xét «hé»
cho độc giả thấy Thảm Kịch được che dấu qua bề mặt của một bản
Anh Hùng Ca”. (42)
Tác giả Gui Patin có viết “Tôi nghĩ là dân mọi Topinambois c̣n
sung sướng trong t́nh mọi rợ của họ hơn là giới nông dân Pháp
thời này”
“Ngay đến ngày nay mà c̣n có người không biết đến sự can đảm của
nhà văn Fénelon qua lá thơ ông này viết cho vua Louis XIV vào
năm 1694 ‘Dân của Bệ hạ, lẽ ra Bệ hạ phải yêu như con cái, và
cho tới nay nó đă nhiệt thành trung tín với vua biết bao. Thế mà
hiện chúng đang đói lả. Ruông đất bỏ hoang, thành thị và thôn
quê thưa người dần. Tất cả nước Pháp chỉ c̣n là một cảnh nhà
thương rộng lớn tiêu điều và thiếu lương thực.” (43)
11) TƯƠNG LAI CHUNG
a)
‘Sáng Kiến’: “ ‘Nhưng nước Việt Nam là một
, dân tộc Việt Nam là một’ là điều mà chúng ta phải xây dựng ra
chứ chưa sẵn có.Và để xây dựng đất nước Việt Nam đó chúng ta cần
một tinh thần mới....để cùng nhau xây dựng một Tương Lai
Chung”.(44)
b)
NGUỒN ‘Sáng Kiến’: “Về chương tŕnh Cải Tổ nước
Pháp, chúng ta phải biến nó thành một Dự Án lớn Chung của nước
Pháp, mà mỗi cải cách nhỏ được cảm nhận như một một yếu tố của
một Kế Hoạch Chung…..” (45)
B) NHẬN XÉT VỀ NHÀ CHÍNH TRỊ CHUYÊN NGHIỆP
1) TỔNG QUÁT
Trên đây, chúng tôi trích dẫn một số câu ĐIỂN H̀NH của tác giả
người Việt cũng như của tác giả người Pháp mà tác giả người Việt
đă xử dụng, nhằm đưa ra ánh sáng sự Trùng Hợp Lạ Lùng về Đề Tài
cũng như Ư Tưởng của đôi bên. Đây chỉ là một số câu Điển H́nh,
tức là c̣n rất, rất nhiều Câu Văn và Ư Tưởng khác nữa cùng một
Thể Loại, đến nỗi có thể nói là trong rất nhiều khiá cạnh, theo
Nghĩa Đen cũng như Nhĩa Bóng, ‘TỔ QUỐC ĂN NĂN’ chỉ là BẢN SAO
của ‘LE MAL FRANCAIS’
Như nhiều Quư độc giả có thể đă đoán được là nhà Chính Trị
Chuyên Nghiệp người Việt được đề cập ở trên là ông NGUYỄN GIA
KIỂNG, tác giả cuốn sách đă gây nhiều tranh căi là ‘TỔ QUỐC ĂN
NĂN’
.
Đây là trường hợp ĐIỂN H̀NH của lớp Trí Thức có thể gọi là ‘Tây
Học Nửa Vời’, tức những người lấy làm hănh diện với cái ‘mát’
TÂY HỌC của ḿnh nhưng lại chưa học được ‘tới nơi tới chốn’ Văn
Hóa và Văn Minh Tây Phương mà hệ quả, như đă đề cập ở trên, là
nhằm biện minh cho các Chiêu Bài như Canh Tân, Gỉai Phóng những
người này vẫn Trở Lại bàn về những Vấn Đề, dùng những Phương
Pháp Lư Luận, cũng như đưa ra những Gỉai Pháp của các thế kỷ
Trước. Những nhóm Đàn Anh của họ như ‘Tự Lực Văn Đoàn’ có thể
phần nào được chúng ta ‘thông cảm’, v́ vào thời điểm đó, lớp
Thức Giả Việt v́ vừa mới tiếp cận với Văn Hóa Tây Phương, nên
chưa hiểu rơ lắm về nội dung và bản chất của nền văn hóa này.
Nhưng đến nay th́ khoảng một thế kỷ đă trôi qua, bao nhiêu ‘nước
đă chảy qua cầu’ mà Nguyễn Gia Kiểng và nhóm THÔNG LUẬN vẫn c̣n
giữ Phản Xạ của lớp Đàn Anh trước kia th́ thật là Đáng Trách và
Lỗi Thời!
Tệ hại hơn nữa là trường hợp đặc thù này c̣n có thể được xem như
là một cuộc Đầu Hàng Toàn Triệt của lớp Trí Thức Thuộc Địa trước
nền Văn Hóa của Mẫu Quốc !!!
Thật vậy, ông Kiểng đă Tự Ư Từ Bỏ khả năng Suy Tư Độc Lập của
ḿnh, rồi lại Dám Tự Nhân Danh để đi Bán ‘Sale’ tất cả nền Văn
Hóa của Tổ Tiên để lại, nhằm Rước Toàn Bộ Nền Văn Hóa của Mẫu
Quốc về Ngự Trị trên Đất Nước ḿnh!
Đáng trách hơn nữa là nếu vấn đề được xét một cách công bằng,
thấu triệt, th́ thật ra đó không phải do lỗi lầm của Văn Hóa hay
Dân Tộc VIỆT, mà là lỗi của đương sự do tính t́nh VỤT CHẠT nên
chỉ v́ một chút HƯ DANH lại THIẾU KHẢ NĂNG và KIẾN THỨC cần
thiết trong lănh vực Văn Hóa và Triết Học nên không nhận diện
được các điều Đúng - Sai, Hay-Dở của mỗi nền Văn Minh, Văn hóa
mới đưa tới việc làm NÔNG NỖI nêu trên.
Ngoài ra, Thái Độ và Hành Động của ông Kiểng có vẻ Không Được
Trong Sáng Lắm, v́ có lẽ nhằm CHE DẤU Nguồn Gốc của đa số Ư
Tưởng trong ‘Tổ Quốc Ăn Năn’ hầu đạt được mục tiêu là RAO BÁN
các Ư Tưởng trên như là MỚI và ĐỘC ĐÁO của riêng ḿnh, ông Kiểng
lấy cớ là một nhà Chính Trị bận rộn để xin độc giả cho miễn kê
khai các tài liệu tham khảo.
Ông Kiểng c̣n tuyên bố :“Tôi nghĩ nên cố gắng để nói ra những
điều mới, và nếu trong mười điều mới nói ra có tới chín điều sai
và chỉ một điều đúng th́ cũng c̣n có ích hơn là nói mười điều
đúng cả mười nhưng đều là những điều đă biết” (46), nhưng điều
đáng tiếc ở đây là mười điều gọi là ‘MỚI’ đó không là kết quả
của môt nỗ lực suy tư đúng đắng của riêng cá nhân ông Kiểng, mà
là của một sự CÓP NHẶT Tư Tưởng của một tác giả khác là Alain
Peyrefitte, như phần tŕnh bày trên cho thấy.
Nếu qua một h́nh ảnh ví von, ta thử so sánh ông Kiểng như một vị
BÁC SĨ chẩn bệnh cho ‘con bệnh’ VIỆT NAM, thay v́ dựa trên Kiến
Thức, Kinh Nghiệm của ḿnh trong quá khứ để đưa ra một lối chữa
trị độc đáo, th́ có lẽ v́ Thiếu Khả Năng, Kiến Thức, nên đi dùng
cách chữa trị của môt vị Bác Sĩ Khác là A. Peyrefitte áp dụng
cho một ‘con bệnh’ khác là NƯỚC PHÁP, để chữa trị cho ‘con bệnh’
Việt Nam. Quư Vị cũng có thể đoán trước được Kết Qủa của cuộc
chữa trị ‘vô tiền khoáng hậu’ trên đây sẽ THẢM KHỐC đến chừng
nào, nếu được áp dụng!!!
Điều ĐÁNG TRÁCH khác là ông Kiểng c̣n GÁN cho người VIỆT những
Tật Xấu mà tác giả A. Peyrefitte t́m thấy nơi người PHÁP như
tính Ganh Ghét, sự Thiếu Đoàn Kết Quốc Gia, sự kiện Yếu về môn
Địa Lư, ‘Tôn Sùng’ Bằng Cấp,‘Lơ Là’ Chính Trị, Chuộng Chiến
Tranh, Tranh Chấp và Bạo Động trong khi ông Kiểng lại cố ư làm
cho độc giả hiểu lầm rằng CHỈ người VIỆT, chứ người PHÁP Không
Có Những Tính Xấu Đó nhằm thực hiện ư đồ không mấy ‘trong sáng’
của ḿnh.
Ngoài ra, khi đọc cả cuốn ‘Tổ Quốc Ăn Năn’, người ta có ‘cảm
tưởng ông Kiểng như người nói huyên thuyên đủ các loại chuyện
trong bàn tiệc. Chuyện ǵ cũng biết,nhưng biết cái này một chút,
cái kia một chút, biết không thấu đáo đến nơi đến chốn’ (47).
Mục tiêu phải chăng là để LOÈ Thiên Hạ về sự Thông Thái của cá
nhân Nguyễn Gia Kiểng ?
2) TRƯỜNG HỢP NGUYỄN HUỆ
Nhân vật lịch sử và ‘nạn nhân’ chính yếu của ‘Tổ Quốc Ăn Năn’ là
Vua QUANG TRUNG. Thật ra ở đây, ông Kiểng cũng chỉ BẮT CHƯỚC tác
giả A. Peyrefitte khi thấy ông này phê b́nh vua LOUIS XIV và
NAPOLÉON của Pháp.
Cũng xin được giới thiệu cùng Quư Độc Giả A. PEYREFITTE , tác
giả cuốn «LE MAL FRANCAIS» là một Nhà Văn và Chính Trị Gia Thứ
Thiệt, v́ ông A. Peyrefitte có chân trong Hàn Lâm Viện Pháp cũng
như đă tham chánh trong khoảng thời gian 20 năm trong Nội Các
của 3 vị Tổng Thống Pháp là De Gaulle, Pompidou và Giscard
d'Estaing. Khác với ‘Tổ Quốc Ăn Năn’, ‘Le Mal Français’ là một
tác phẩm có GIÁ TRỊ v́ là kết quả của một công tŕnh Suy Tư Đứng
Đắn của một Nhà Văn và Nhà Chính Trị có KHẢ NĂNG. Và đó là điều
mà «Tổ Quốc Ăn Năn» Không Có được v́ những lư do mà chúng tôi đă
nêu trên.
A. Peyrefitte đi ngược lại khuynh hướng của đa số các Sử Gia
người Pháp khi phê b́nh vua Louis XIV và Napoléon. Có lẽ v́ chịu
ảnh hưởng của nền Văn Hóa Tây Phương có tính chất DUY LƯ, Một
Chiều nên đa số các Sử Gia Pháp chỉ thấy và Ca Tụng tính chất
Hiển Hách của các Chiến Công của Louis XIV và Napoléon cũng như
tính chất Huy Hoàng của thời đại Louis XIV có biệt hiệu là ‘Ông
Vua Mặt Trời’(le Roi-Soleil).
Trong khi đó, A. Peyrefitte có cái nh́n NHÂN BẢN hơn nên ông
thấy được đàng sau sự Huy Hoàng của thời đại Louis XIV qua biểu
tượng thường được nhắc tới là Cung Điện Versailles, là sự Nghèo
Đói và Thống Khổ của đa số dân chúng Pháp vào thời kỳ đó, nhất
là giới Nông Dân.
Có lẽ v́ thấy A. Peyrefitte phê b́nh Louis XIV và Napoléon, nên
ông Kiểng mới BẮT CHƯỚC ‘Hạ Bệ’ Nguyễn Huệ! Nhưng v́ NGK không
nắm được lư do thâm sâu của việc làm của Peyrefitte, nên không
hiểu rằng việc làm của Peyrefitte có thể ĐÚNG mà NGK lại có thể
SAI!
Về vua Quang Trung, nguyên nhân Chính Yếu có lẽ là v́ sinh
trưởng và được nuôi dưỡng trong bầu khí Văn Hóa HAI CHIỀU KÍCH
‘T́nh Lư Tương Tham’, nên ngoài Khả Năng Quân Sự không những
Ngang Hàng mà c̣n có thể Hơn cả Louis XIV và Napoléon (v́ bên
cạnh những Chiến Công Hiển Hách, hai ông Vơ Tướng người Pháp
cũng Thua nhiều trận ‘liểng xiểng’, c̣n trái lại Nguyễn Huệ Chưa
Thua trận nào), con người Nguyễn Huệ c̣n có một Chiều Kích Khác
mà cả Louis XVI và Napoléon đều không có.
Về điểm trên, chúng tôi sẽ dùng những Sử Liệu với những CHỨNG
NHÂN đến từ nhiều phe nhóm, thời kỳ, nguồn gốc khác nhau, để cho
sự phán đoán đạt được sự VÔ TƯ tối thiểu.
Thứ nhất là cụ TRẦN TRỌNG KIM mà NGK ‘buộc tội’ là v́ thù hận
nhà Nguyễn nên thổi phồng tài năng của vua Quang Trung.(48) Luận
cứ trên không vững v́ nếu cụ TTK thù hận nhà Nguyễn, tại sao lại
được vua Bảo Đại mời ra tham chính? Cụ TTK viết về NGUYỄN HUỆ
như sau: “Vua Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn là ông vua anh
dũng, lấy vơ lược mà dựng nghiệp, nhưng ngài có độ lượng, rất am
hiểu việc trị nước, biết trọng những người hiền tài văn học”(49)
Về phía QUỐC GIA, trong thời kỳ từ 1954 đến 1975, có tác giả
PHẠM VĂN SƠN trong bộ Sử Giáo Khoa thứ hai là ‘Việt Sử Tân Biên’
và ‘Việt Sử Toàn Thư’, có viết như sau : “Quang Trung Hoàng Đế
tuy là một quân nhân thượng vơ, múa gươm trên ḿnh ngựa mà lấy
thiên hạ, nhưng sau cuộc đại định cũng đă tỏ ra biết chú trọng
đến nhân tài, văn hóa và chính trị. Trong các việc này nhà vua
có nhiều sáng kiến đặc biệt phát sinh ở một tinh thần cách mạng
và quốc gia rất sáng suốt và cấp tiến” (VSTT, tr. 560)(50)
Về phía TRONG NƯỚC th́ có nhà Viết Sử ĐỖ BANG viết về NGUYỄN HUỆ
như sau: “Xuất thân không là trí thức, nhưng v́ do yêu cầu dựng
nước, nên Nguyễn Huệ không thành kiến với trí thức mà hết sức
trân trọng và thủy chung nên Nguyễn Huệ đă tập hợp được xung
quanh ông bao gồm nhiều trí thức tâm huyết , tận tụy với nước,
với Quang Trung, như Trần Văn Kỷ, Ngô Th́ Nhậm, Phan Huy Ích,
Nguyễn Thiếp.
.
Trước Nguyễn Huệ và sau Nguyễn Huệ hiếm có ai đă nh́n nhận đúng
đắn về vai tṛ của trí thức vào việc dựng nước như ông, mặc dù
Nguyễn Huệ là người ít học, xuất thân từ một gia đ́nh nông dân ở
một vùng ngoại biên của văn hóa kinh kỳ.
Quan điểm sử dụng trí thức của Quang Trung được thể hiện rơ
trong bài ‘CHIẾU LẬP HỌC’: ‘Dựng nước lấy việc học làm đầu, trị
nước chọn nhân tài làm gốc .Trẫm buổi đầu dựng nghiệp, tôn trọng
việc học, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn có người thực tài ra giúp
đất nước.’(51)
Khác với đội quân thời trung cổ chuyên đi cướp bóc của cải và nô
lệ, Nguyễn Huệ năm 1786 ra Thăng Long đă t́m ngay các tiến sĩ,
quan lại của Lê - Trịnh, chọn trong họ những người có tài để đưa
về Phú Xuân nhằm thực hiện môt nền văn trị lâu dài. Và, cho t́m
các thợ rèn giỏi đưa về Phú Xuân để phát triển kỹ thuật của một
kinh đô và một nền quân chính cần được đẩy mạnh kiến thiết và
xây dựng ở một tầm mới của thời đại.” (52)
Về việc thẩm định thời đại Tây Sơn, “năm 1822 một người Anh tên
Crawfurd đến Việt Nam có thuật lại rằng:’ Tôi đă gặp những
thương nhân Hoa Kiều ở Huế, đă nói chuyện với họ. Họ đă sống
dưới chế độ Tây Sơn và chế độ Nhà Nguyễn, họ nói chắc rằng,
triều đại Tây Sơn cai trị công bằng và ôn ḥa hơn nhà vua hiện
tại (tức Minh Mạng) hay cha nhà vua ấy(Gia Long)”.(53)
“Năm 1790, giáo sĩ La Mothe cũng viết ‘Phải nói trắng ra rằng,
t́nh cảnh không đến nỗi tệ. Dưới triều đại này chúng tôi được
che chở khỏi bị lũ cướp phá phách, và về phần đạo giáo th́ chúng
tôi được hưởng nhiều tự do và an ninh hơn các triều đại trước”.
(54).
Trong khi ở bên trới TÂY, vào thời sớm hơn một chút, vua Louis
XIV đang theo đuổi mộng ‘Đại Pháp’, ‘Đại Thế Kỷ’(Le Grand
Siècle), hay đồng thời với Nguyễn Huệ, Napoléon đang theo đuổi
mộng Thống Nhất Âu Châu, bất kể đến sự Khổ Cực, Đau Thương của
Dân Chúng và Binh Lính, th́ chúng ta hăy lắng nghe vua QUANG
TRUNG tâm sự với Ngô Thời Nhậm ở dưới núi Tam Điệp như sau:
“ Lần này ta ra thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đă có
sẵn, chẳng qua mười ngày, có thể đuổi được người Thanh, nhưng
nghĩ, chúng là nước lớn gấp mười nước ḿnh, sau khi bị thua
trận, ắt ấy làm thẹn mà lo báo thù, như thế th́ việc binh đao
không bao giờ dứt không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như
vậy. Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh
đao. Không phải Ngô Thời Nhậm th́ không ai làm được. Chờ mười
năm nữa cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng bấy giờ nước
giàu dân mạnh, th́ ta có sợ ǵ chúng’.(55).
Tóm lại, BẮT CHƯỚC A.Peyrefitte, nhưng không hiểu thâm ư của
Peyrefitte khi ông này phê b́nh Louis XIV và Napoléon, nên NGK
mới đ̣i ‘Hạ Bệ’ Nguyễn Huệ. Có lẽ v́ theo phương pháp Lư Luận
Một Chiều đă Lỗi Thời nên NGK không biết là Nguyễn Huệ chỉ Giống
Louis XIV và Napoléon ở một khía cạnh là một Vơ Tướng Tài Ba,
c̣n môt khiá cạnh khác của Nguyễn Huệ mà cả Louis XIV lẫn
Napoléon đều không có là sự ĐỨC ĐỘ và ḷng NHÂN ÁI. Như đă được
đề cập ở trên, nguyên nhân chính yếu có lẽ là v́ hai Vơ Tướng
gốc Pháp đă lớn lên trong bầu khí văn hóa Duy Lư Một Chiều của
Tây Phương, trong khi NGUYỄN HUỆ đươc sinh ra và nuôi dưỡng
trong nền văn hóa HAI CHIỀU KÍCH ‘T́nh Lư Tương Tham’ của Viễn
Đông và Việt Nam. Do đó, nêu lấy Công Tâm mà đọc những ḍng vừa
trích ở trên của những CHỨNG NHÂN thuộc những phe nhóm, nguồn
gốc và thời kỳ khác nhau, th́ chúng ta đâu có thấy NGUYỄN HUỆ
qua h́nh ảnh của một ‘Tướng Cướp’ như NGK cố t́nh xuyên tạc, mà
trái lại qua bức chân dung của một vị Vơ Tướng ‘anh hùng vô
địch’ nhưng lại có ḷng Nhân Ái đối với quốc dân và binh sĩ ,
một vị Vua Anh Minh, Tài Ba Đức Độ, Văn Vơ Song Toàn, đúng theo
Lư Tưởng của nền Văn Hóa NHÂN CHỦ, HAI CHIỀU KÍCH của dân tộc
VIỆT vậy!
3) TRƯỜNG HỢP NHO GIÁO
a) VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN
Mục tiêu chính yếu khác của ‘Tổ Quốc Ăn Năn’ là ĐÁNH ĐỔ NHO
GIÁO, v́ theo NGK, Nho Giáo ‘đă khiến cho các xă hội Á Đông
trong đó có Việt Nam thuộc văn hóa Trung Hoa dậm chân tại chỗ
trong hơn hai ngàn năm. Ư này ở trang 277 của cuốn Tổ Quốc Ăn
Năn được coi là lư do chính tại sao phải đánh Nho Giáo, hạ bệ
Khổng Tử».(56)
Nhưng có lẽ ông Kiểng không ư thức được rằng đề tài trên đă LỖI
THỜI lắm rồi, v́ ‘Thời Trang’ Văn Hóa xem Nho Giáo là nguyên
nhân khiến các xă hội Á Đông ‘chậm tiến’ đă qua đi từ lâu. Và từ
lâu nay, xuất hiện một ‘Thời Trang’ MỚI là làm sao Giải Thích
Ảnh Hưởng của NHO GIÁO đối với sự Hiện Đại Hóa VƯỢT BỰC của các
‘Con Rồng’ Á CHÂU như Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba.mà
mẫu số chung là nền văn hóa Nho Gíao. Do đó, chúng tôi có cảm
tưởng là NGK và những người thuộc phe nhóm của ông luôn luôn ĐI
TRỄ MỘT CHUYẾN TÀU!
C̣n một lư do khác khiến chúng tôi xem đề tài trên đă LỖI THỜI,
là v́ cách đây đă hơn 20 năm,căn cứ trên nhận xét của một Học
Giả Quốc Tế danh tiếng gốc Pháp Etiemble về số phận khác nhau
của Nho Giáo tại Trung Hoa, Việt Nam một bên, và bên kia là Nhật
Bản, chúng tôi đă có dịp phân trích vấn đề này như sau:“Vận nước
có khi lên khi xuống nhưng nếu muốn t́m một giải thích văn hóa
về vấn đề trên th́ chúng tôi có nhận xét như sau: Nho Giáo đến
đời nhà Tống chia làm hai ḍng: ḍng ‘Lư Học’ của Chu Hy ảnh
hưởng mạnh ở Trung Hoa và Việt Nam lại nặng phần từ chương trích
cú; c̣n ḍng ‘Tâm Học’ của Vương Dương Minh gần với tinh thần
Nho Giáo Nguyên Thủy hơn lại mạnh ở Nhật, nên giúp giới Sĩ Phu
của Nhật thời đó sáng suốt hơn, cũng như ‘giúp Nhật trong ṿng
non nửa thế kỷ trở nên một trong những quốc gia đệ nhất hoàn
cầu’(57).
Thực ra sở học của ông Kiểng về Nho Giáo không có bao nhiêu:
bằng chứng là để “T́m hiểu Khổng Giáo mà NGK chỉ đọc cuốn Luận
Ngữ do Nguyễn Hiến Lê biên soạn, dù có đối chiếu bản Luận Ngữ
bằng tiếng Pháp của Bùi Đức Tín, của Anne Cheng.”(58)
Với vốn kiến thức rất ‘khiêm nhường’ về đề tài trên, và một DỤNG
Ư rất ‘lộ liễu’ là cố t́nh xuyên tạc và ‘hạ bệ’ nền văn hóa cổ
truyền bằng mọi giá, nên NGK đưa ra những giải thích rất KỲ CỤC
về những thuật ngữ căn bản của Nho Giáo như ‘Quân Tử - Tiểu
Nhân’, chữ ‘Nhân’, chữ ‘Đức’, chữ ‘Lễ’, vai tṛ của Khổng Tử ,
thái độ của Nho Giáo đối với Phụ Nữ.
b) QUÂN TỬ - TIỂU NHÂN
Ông Kiểng viết: “Điều rất ngạc nhiên là tuyệt đại đa số những
người bàn luận về Khổng Giáo không hiểu ư nghĩa của những từ ngữ
‘quân tử’ và ‘tiểu nhân’ ở vào thời đại Khổng Khâu (và rất lâu
sau khi ông qua đời) nên họ thường coi ‘sĩ’ và ‘quân tử’ là
những giá trị tinh thần, biểu tượng cho một nhân cách, một đạo
đức và họ hay đồng hóa ‘sĩ’ và ‘quân tử’ với sự cao thượng.
Thực ra ‘nho’ chỉ là những người học để ra làm quan, ‘sĩ’ là
những nho được tuyển chọn để được huấn luyện thành quan, ‘quân
tử’ “là một giai cấp, giai cấp của kẻ sĩ, những kẻ làm tay sai
cho các vua chúa để thống trị quần chúng. C̣n ‘tiểu nhân’ chỉ có
nghĩa là quần chúng mà thôi” (59)
NHẬN XÉT
_ Nhận xét đầu tiên là tính chất TRỊCH THƯỢNG, NGẠO MẠN toát ra
từ các ḍng trên: NGK làm như từ xưa đến nay,trong những người
nghiên cứu Nho Giáo th́ hầu như KHÔNG có ai hiểu ĐÚNG trừ đương
sự.
Ở đây, có lẽ nên nói NGƯỢC lại th́ ĐÚNG hơn: “Điều đáng ngạc
nhiên là hầu như tuyệt đại đa số những người bàn luận về Khổng
Giáo ít hay nhiều hiểu ĐÚNG hai từ ngữ ‘quân tử’ và ‘tiểu nhân’,
TRỪ NGK là người đă từ chối khả năng Suy Tư của chính ḿnh, nên
vẫn c̣n giữ lại loại Phản Xạ, cũng như dùng loại Phương Pháp,
bàn về những Vấn Đề với loại Nội Dung đă LỖI THỜI để cuối cùng
biến cuốn sách ḿnh viết thành BẢN SAO của một cuốn sách khác
của một người NGOẠI QUỐC”.
_ Thứ hai, dẫu trước Khổng Tử, hai từ ngữ ‘quân tử’ và ‘tiểu
nhân’ có ư nghĩa như NGK lập luận đi nữa, th́ nếu NGK nghiên cứu
đàng hoàng và chịu khó CẬP NHẤT HÓA vốn Kiến Thức của ḿnh th́
sẽ hiểu rằng đúng theo tinh thần của cuộc CÁCH MẠNG Chính Trị mà
Khổng Tử muốn thực hiện nhằm đánh đổ chế độ Kế Tử bằng cổ động
cho chế độ KẾ HIỀN, th́ ít nhất là từ đời Khổng Tử trở về sau,
‘Quân Tử’ đă mang ư nghĩa Luân Lư, Đạo Đức, nghĩa là bất kỳ ai
dù thường dân cũng thế hễ có những đức tính Cao Thương đều được
gọi là Quân Tử, chứ không phải hiểu theo nghĩa đă Lỗi Thời của
NGK!!!
c) CHỮ LỄ
NGK viết: “Tiên học lễ hậu học văn chỉ có nghĩa trước học cúng
rối sau mới học chữ” (60). Theo NGK, chữ ‘lễ’ trong Nho Giáo
không có nghĩa là lễ phép, lịch sự mà chỉ có nghĩa ‘lễ nghi’ mà
thôi».
Nếu “quả thật chữ ‘lễ’ trước khi Khổng Tử ra đời chỉ có nghĩa là
cúng tế, nghi thức trong thờ phụng mà thôi, cũng như về sau chữ
‘lễ’ dùng rộng ra gồm cả phong tục, tập quán mà xă hội thừa nhận
trong các sinh hoạt như quan, hôn, tang , tế, th́ cũng như cặp
cụm từ ‘quân tử - tiểu nhân’, sau Khổng Tử chữ ‘lễ’ c̣n bao gồm
nhiều nghĩa khác như lẽ công chính của đạo lư và lẽ thích nghi
đạo lư ở đời. ‘Lễ’ theo quan niệm của Khổng Tử là để giữ t́nh
cảm cho hợp với đạo trung, tạo thành t́nh cảm nhân hậu, căn bản
trọng yếu của Nho Giáo. ‘Lễ’ để định lẽ phải trái, trật tự trên
dưới, thân sơ trong xă hội. Mục tiêu sau cùng của chữ ‘lễ’ trong
Khổng Giáo nhằm để tiết chế cái tư dục của nhân sinh.” (61)
Cũng như với tiểu mục trước, tuyệt đại đa số những người có dịp
nghiên cứu Nho Giáo đều hiểu ít nhiều theo một hay nhiều ư nghĩa
đă được THĂNG HOA của chữ «Lễ» vừa tŕnh bày ở trên TRỪ NGK KỂ
CŨNG LẠ!!!
C̣n về các chữ quan trọng khác của Nho Giáo như chữ NHÂN, chữ
ĐỨC….. NGK cũng có lối Hiểu và Giải Nghĩa rất Lập Dị KỲ CỤC,
KHÔNG GIỐNG AI CẢ !!! Như đối với nhóm chữ ‘Quân Tử - Tiểu Nhân’
và chữ LỄ vừa nêu trên vậy.
d) VAI TR̉ CỦA KHỔNG TỬ
V́ mục tiêu chính yếu của NGK với ‘Tổ Quốc Ăn Năn’ là ĐÁNH ĐỔ
NHO GIÁO, nên ngoài việc chỉ trích các thuật ngữ quan trọng của
Nho Giáo như ‘Quân Tử - Tiểu Nhân’, chữ LỄ, chữ NHÂN, chữ ĐỨC
v.v., NGK c̣n nhắm ‘mủi dùi' vào chính
con người KHỔNG TỬ.
Nhận xét của ông Kiểng về phần đóng góp của KHỔNG TỬ:
"Đối với Nho Giáo, Khổng Tử không sáng
tác ǵ cả. Đóng góp của ông không đáng kể so với Mạnh Tử và cũng
kém hẳn các danh nho sau này." (62)
Nếu quả đúng như NGK nhận xét th́ Mạnh Tử đă không ‘nức nở’ khen
Thầy ḿnh ‘không hết lời’, cũng như hậu thế đă không ‘tặng’ cho
Khổng Tử các danh hiệu cao quư nhất như ‘VạnThế Sư Biểu’, ‘Thánh
Chi Thời’ trong khi danh hiệu cao nhất của Mạnh Tử là ‘Á Thánh’.
Cũng như giới Học Giả Quốc Tế Cận Đại và Hiện Đại đă không tỏ sự
Ngưỡng Mộ đối với Ngài như thế, đến nổi như Học Giả Richwein
chẳng hạn tuyên dương KHỔNG TỬ là ‘Thánh Quan Thầy Của Thế Kỷ
Ánh Sáng (Le Siècle des Lumières), có lẽ do Ảnh Hưởng của Khổng
Tử trên Những Người Cha Tinh Thần Của Nền Dân Chủ Tây Phương như
Voltaire, Montesquieu, Rousseau, Franklin, Jefferson….. vvv…..
Ngoài ra, dựa vào câu nói ‘thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ’
NGK chê trách Khổng Tử như sau: “Đó không phải câu nói khiêm tốn
như ta có thể nghĩ, mà cả một tôn chỉ của Khổng Khâu. Ông coi
những triết lư và hiểu biết của người xưa là đầy đủ và hoàn
chỉnh, đời sau cứ thế mà theo không được sửa đổi thêm bớt ǵ
cả”(63).
Thật ra nhóm chữ trên có nhiều lối hiểu khác nhau từ đợt b́nh
thường cho đến đợt Minh Triết cao siêu. Nhưng cứ sự, th́ có
nhiều Học Giả Quốc Tế danh tiếng xem đây là một lời nói KHIÊM
TỐN của Khổng Tử, v́ như đối những chữ ‘Lễ’, chữ ‘Nhân’, chữ
‘Đức’ hay nhóm chữ ‘Quân Tử - Tiểu Nhân’, tuy trên bề mặt có vẻ
‘Thuật Nhi Bất Tác’ v́ Khổng Tử dùng những Thuật Ngữ đă có từ
lâu, nhưng trên thực tế Khổng Tử đă THUẬT NHI TÁC, tức Ngài cho
chúng mang những Ư Nghĩa rất MỚI MẺ, rất CÁCH MẠNG mà các từ ngữ
trên không có trước thời Khổng Tử.
Nếu không, th́ Tư Tưởng, Tiếng Tăm của Ngài đă bị ‘chôn táng’
với nhà Chu, chứ đâu c̣n Sống Mạnh cho đến ngày nay, để cả Thế
Giới phải mời KHỔNG TỬ như tại Hội Nghị Quốc Tế về Triết Học tại
Honolulu vào năm 1949, ra làm NHẠC TRƯỞNG cho cuộc Ḥa Tấu Văn
Hóa Đông Tây Mai Hậu!!!(64)
e) THÁI ĐỘ CỦA NHO GIÁO ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
Một vấn đề quan trọng khác là thái độ của Nho Giáo đối với Phụ
Nữ. Ông Kiểng viết: "Hệ thống giá trị
áp đặt cho phụ nữ rất mọi rợ và vô nhân đạo. Nó hạ giá người phụ
nữ xuống ngang hàng một nô lệ và một vật dụng»(65)
Đối với vấn đề này cũng như nhiều vấn đề khác, NGK cũng KHÔNG
CẬP NHẬT HÓA vốn kiến thức của ḿnh nên vẫn tiếp tục dùng những
Luận Cứ của các Thế Kỷ Trước
.
Trước tiên, ông Kiểng không biết đến sự phân biệt giữa VIỆT NHO
và HÁN NHO của Cố Triết Gia Kim Định. Theo Chủ Thuyết VIỆT NHO
của Cố Triết Gia được kiện chứng bởi các khám phá của KHOA HỌC
gần đây, dân Bách Việt gốc NÔNG NGHIỆP vào đất Tàu trước Hoa
Tộc, nên đặt nền móng đầu tiên cho Nho Giáo. C̣n Hoa Tộc là dân
DU MỤC vào sau, tuy yếu về Văn Hóa nhưng mạnh về Quân Sự nên dồn
dân Bách Việt về phương Nam và Cai Trị nước Tàu trên hơn hai
ngàn năm cho đến ngày nay.
Ngoài ra, cặp Nông Nghiệp - Du Mục thường đi đôi với cặp DÂN CHỦ
- ĐỘC TÀI. Và v́ vai tṛ của PHỤ NỮ rất quan trọng trong xă hội
Nông Nghiệp (như việc Gieo Gặt, trọng điểm của xă hội Nông
Nghiệp hầu chắc là do phụ nữ sáng kiến ra), nên các xă hội nông
nghiệp cổ sơ thường theo chế độ Mẫu Hệ, thờ Nữ Thần, cũng như
dành cho Phụ Nữ vai tṛ quan trọng được thấy chẳng hạn qua tập
tục tính theo Họ Mẹ và tục Cưới Rể như một vài sắc dân Ra Đê
trên Ban Mê Thuột vẫn c̣n giữ.
Mặt khác, nền VƯƠNG ĐẠO của Nho Giáo Nguyên Thủy do Khổng Tử đại
diện v́ rất gần với tinh thần Nông Nghiệp của Việt Nho nên đạt
được tinh thần DÂN CHỦ qua thuật ngữ ‘Dân Vi Quư’ của Mạnh Tử
chẳng hạn và như đă nói ở trên, đă có ảnh hưởng rất lớn trên
những người Cha Tinh Thần của Thế Kỷ Ánh Sáng như Voltaire,
Montesquieu, Rousseau, Frankhlin, Jefferson…..(66)
Nhưng đến nhà HÁN th́ bề ngoài có vẻ tôn Nho nhưng trong thực tế
lại lập tháp Thạch Cừ nhằm xuyên tạc Nho Giáo như chẳng hạn giải
nghĩa Nho theo kiểu ma thuật có lợi cho chính quyền chuyên chế,
hạ giá đạo Hiếu để đề cao ‘trung quân’ hay thay thế TAM CƯƠNG
Đạt Đức: Trí-Nhân-Dũng của Nho Giáo Nguyên Thủy bằng TAM T̉NG
của Đổng Trọng Thư.
Nho Vương Triều cùng với số phận của người Phụ Nữ c̣n tiếp tục
SA ĐỌA với các nhà triều đại Nguyên
Minh, Tống,Thanh.
Vậy nên muốn hiểu đúng TINH HOA của Nho Gíao, phải trở về với
Nho Giáo Nguyên Thủy hay xa hơn nữa là Việt Nho, đặc biệt trong
môi sinh tinh thần của LÀNG XĂ VIỆT.
Nhiều Học Giả Ngoại Quốc như M. Durand trong ‘La Femme Annamite’
đều nhận thấy vai tṛ QUAN TRỌNG của người Phu Nữ VIỆT trong đời
sống gia đ́nh. “Lấy chồng, người vợ có quyền Tay Ḥm Tay Khóa ,
nghĩa là quyết định về tài sản và tài chánh của gia đ́nh. Jules
Ferry, một viên quan cai trị Đông Dương thời Pháp thuộc, đă
không tiếc lời ca tụng vẻ đẹp gia đ́nh trong xă hội Việt Nam,
nhờ người vợ đóng vai tṛ NỘI TƯỚNG, Chủ Nhân Ông thực sự của
gia đ́nh” (67)
Nhưng địa vị đặc
biệt CAO QUƯ của Phụ Nữ VIỆT khi so với thân phận rất HẨM HIU
của tuyệt đại đa số người phụ nữ Cùng Thời ở trong các nền văn
hóa khác, được đặt nổi một cách đặc biệt trong bộ ‘Quốc Triều
H́nh Luật’ c̣n được gọi là Luật Hồng Đức ra đời cách đây khoảng
5 thế kỷ. Nhưng v́ NGK KHÔNG chịu CẬP NHẬT HÓA vốn Kiến thức của
ḿnh nên không hay biết ǵ về nội dung của Bộ Luật rất quan
trọng này.
Khi so sánh Luật Hồng Đức với Luật Tây Phương cùng thời, trên
phương diện Tài Sản, trong khi Luật Hồng Đức cho vợ chồng hoàn
toàn B̀NH ĐẲNG VỀ HÔN SẢN th́ tại Mỹ, măi tới năm 1890 nhiều
tiểu bang mới sửa đổi và một số tiểu bang vẫn c̣n áp dụng học lư
‘Femme Couverte’ của Thông Luật, theo đó NGƯỜI VỢ LÀ VẬT SỞ HỮU
CỦA CHỒNG và không có quyền pháp lư đối với lợi tức do chính bà
kiếm ra cũng như đối với con cái và tài sản của bà, trừ khi hai
vợ chồng kư hôn khế trước đặt tài sản của họ dưới chế độ giám hộ
(trust).
Và một cách Tổng Quát, trong khi người phụ nữ VIỆT ở thế 15, có
quyền tư hữu ngang hàng với chồng và giữa vai tṛ quan trọng
trong gia đ́nh cũng như ngoài xă hội, th́ măi tới thế kỷ 18 ở Âu
Châu và thế kỷ 20 ở Mỹ, địa vị của người đàn bà TÂY PHƯƠNG c̣n
thấp trong cả trong gia đ́nh lẫn ngoài xă hội. Cao trào Phụ Nữ
(Feminism) chỉ thực sự lên cao tại Mỹ vào thập niên 1960 và thu
thành quả tích cực vào những năm 1990.(68)
Vậy nên câu tuyên bố sau đây của NGK «Hệ thống giá trị áp đặt
cho phụ nữ rất mọi rợ và vô nhân đạo. Nó hạ giá người phụ nữ
xuống ngang hàng một nô lệ và một vật dụng» ÁP DỤNG CHO PHỤ NỮ
TÂY PHƯƠNG TH̀ ĐÚNG HƠN, ít nhất cho đến thế kỷ 18 đối với Âu
Châu và thế kỷ 20 đối với Hoa Kỳ!
ĐÚNG LÀ TUYÊN BỐ ẤU TẢ!!!
KẾT LUẬN
Từ khi có hiện tượng ‘Tổ Quôc Ăn Năn’, có lẽ đa số người VIỆT
chúng ta ở Hải Ngoại cũng như ở Trong Nước, tỏ ra Ngán Ngẫm đối
với trường hợp một cá nhân như Nguyễn Gia Kiểng, v́ một chút
Danh Hảo, đă không từ bỏ một phương tiện, Thủ Đoạn nào cả để đạt
được mục tiêu của ḿnh!
Với một vốn Kiến Thức về Văn Hóa nhất là Triết Học rất ‘khiêm
nhường’ ( như chính đương sự từng ‘thú nhận’), tức KHÔNG có sự
CHUẨN BỊ Tối Thiểu để làm công việc VĂN HÓA, ông Kiểng lại đi
‘huyên hoang’ tuyên bố là muốn làm một cuộc ‘Cách Mạng ĐỔI MỚI
về Tư Duy’, với những ư kiến thật ‘Mới Mẻ’, ‘Độc Đáo’!
Do đó, thiên hạ mới trông chờ xem từ ‘Ngài Thủ Lănh’ của nhóm
Thông Luận nội dung của cuộc ‘Cách Mạng Văn Hóa’ kiểu Nguyễn Gia
Kiểng là ‘cái ǵ đây’? Th́ té ra THỦ THUẬT Chính Yếu của NGK là
Nhục Mạ Tổ Tiên và các vị Anh Hùng Dân Tộc được thấy qua cái TỰA
‘Quái Đản’ của cuốn sách là ‘Tổ Quốc Ăn Năn’. Với lối Lư Luận
NGỤY BIỆN đầy tính chất Chủ Quan, Một Chiều có lẽ Mưu Đồ của NGK
và các ‘Đồng Chí’ của ông ta là tạo điều kiện để gây ‘X́ Căn
Đan’ nhằm lôi kéo sự chú ư của dư luận, đồng thời t́m cách đánh
mất ḷng tin nơi độc giả đối với nền Văn Hóa VIỆT, cũng như gây
hoang mang chia rẽ trong cộng đồng người Việt, để các THẾ LỰC mà
nhóm ông dựa vào, THỪA ĐỤC THẢ CÂU chăng?
Về sự trông chờ từ Trái Núi là những kiến thức ‘Mới Mẻ’, ‘Độc
Đáo’ mà ông Kiểng hứa với độc giả, th́ cuối cùng lại đẻ ra Con
Chuột ‘nhắt’ là những ư tưởng CÓP NHẶT từ một tác giả ngoại quốc
với sự Trùng Hợp đạt đến mức độ ‘khủng khiếp’ để một người quan
sát VÔ TƯ nhất cũng phải đi tới kết luận là ‘TỔ QUỐC ĂN NĂN’ của
Nguyễn Gia Kiểng chẳng qua cũng chỉ là BẢN SAO của tác phẩm LE
MAL FRANCAIS. của A.Peyrefitte mà thôi!!!
Đến đây có lẽ chúng ta mới thấy CẢM PHỤC trước sự Khôn Ngoan của
Tổ Tiên Lạc Việt khi các Ngài chủ trương ‘Trọng Đức Hơn Tài’. Lư
do là với Văn Minh ngày nay khi con người thay v́ đặt ‘Đức Trên
Tài’ th́ lại đi tôn sùng cái ‘Tài’, cái ‘Khỏe’, cái ‘Thông Minh’
lên làm Thần Tượng, th́ xảy ra trường hợp ĐÁNG BUỒN như sự ra
đời của cuốn sách ‘Tổ Quốc Ăn Năn’ của NGK, Thật vậy, v́ muốn
thỏa măn tính Háo Danh, mà v́ THIẾU TÀI, tức v́ không đủ khả
năng trong lănh vực Văn Hóa, Triết Học, người ta phải đi làm
chuyện Gian Dối, Che Đậy. Tức ở đây là đi CHÔM Tư Tưởng của
người khác về làm của ḿnh, mà lại c̣n ‘huyên hoang’ đi ‘khoe
mẽ’ là ‘Ta Đây’ có Tư tưởng Độc Đáo, Mới Mẻ. Quả đúng là ĐẠO
VĂN, chứ đâu phải Làm Văn Hóa!!!
Tóm lại, ông Kiểng và phe nhóm đă không ngần ngại dùng những
phương tiện KHÔNG CHÍNH ĐÁNG như Đạo Văn, Xuyên Tạc Lịch Sử và
Sự Thật trong âm mưu thâm độc là Nhục Mạ Tổ Tiên và Hạ Giá Nền
Văn Hóa Việt.
Trong khi đó, ít nhất từ nửa thế kỷ nay, một loạt khám phá của
giới Học Gỉa Quốc Tế, đi từ tính chất LÂU ĐỜI của nền Văn Minh
Nông Nghiệp của Sắc Dân H̉A B̀NH của TS Wilheim G. Solheim II
qua ‘Địa Đàng tại Phương Đông’ của BS Stephen Oppenheimer là
người chủ trương Văn Minh Nhân Loại Bắt Đầu Ở Đông Nam Á , hay
các khám phá về địa bàn của LÚA NƯỚC bên miền Viễn Đông nằm ở
miền Nam Trung Hoa và vùng Đông Nam Á, hoặc qua sự kiện là các
CỔ VẬT ở đất VIỆT được xếp đặt theo Bộ Số 2-3-5 là nguồn gốc của
các thuyết Âm-Dương (2), Tam Tài (3), Ngũ Hành (5) của Dịch Lư
.vv. đến nội dung NHÂN QUYỀN của bộ Luật Hồng Đức, hoặc qua khám
phá của chúng tôi gần đây về tính chất LÂU ĐỜI của THỂ CHẾ Làng
Xă VIỆT rất Tương Tự với Thể Chế DÂN CHỦ Ngày Nay, tóm lại qua
tất cả các điều vừa tŕnh bày ở trên,
GIỚI HỌC GIẢ QUỐC TẾ ĐĂ TRẢ DANH DỰ VÀ SỰ THẬT LẠI CHO TỒ TIÊN
LẠC VIỆT!!!
Ngay các Học Giả TRUNG QUỐC, cách đây gần 10 năm, trong tờ
‘BEIJING REVIEW’, một trong những ‘tiếng nói’ chính thức của
Chính Quyền Trung Hoa, trong số ngày 23-29/03/1998, ở phần
«Culture and Science» (tr.31), trước những bằng chứng không chối
căi được của KHOA HỌC ngày nay, đă phải đi đến việc phủ nhận
quan điểm Lịch Sử 5000 năm của Sử Gia Tư Mă Thiên để thay thế
bằng chủ trương của giới Học Giả QUỐC TẾ về Lịch Sử 10,000 năm
lập quốc Trung Hoa với sự đóng góp Nền Tảng của các bộ tộc BÁCH
VIỆT trong một xă hội mà họ gọi là Đa Văn Hóa được thành h́nh
vào thới kỳ này. (69)
Trong khi đó, ông Kiểng và phe nhóm th́ lại có thái độ PHỚT LỜ
đối với các Khám Phá KHOA HỌC Mới Mẻ Nhất, tức là KHÔNG chịu CẬP
NHẬT HOÁ vốn Kiến thức của ḿnh, mà trái lại tiếp tục Dùng những
tài liệu Cũ Kỹ, Lỗi Thời của đám Thực Dân, Thuộc Địa trước đây
để Xuyên Tạc Lịch Sử cũng như Nhục Mạ Tổ Tiên và các vị Anh Hùng
Dân Tộc VIỆT.
Đă vậy trước hiểm họa Xâm Lăng mới đây của Trung Cộng, NGK và
nhóm Thông Luận lại muốn nhảy vào ĂN CÓ như muốn Nhại Lại Người
Xưa bằng cách hô hào ‘TOÀN DÂN NGHE CHĂNG ‘. Thật ĐÁNG HỔ THẸN
!!!
THƯA QUƯ VỊ,
Sau những việc làm TÀY TRỜI của Quư Vị đối với Tổ Tiên, Đất
Nước, Quư Vị nên CÂM MIỆNG đi th́ hơn, nếu không muốn trở thành
Tṛ Cười cho Thiên Hạ và Hậu Thế! Nhiều Người và Đoàn Thể Khác
tỏ ra Xứng Đáng hơn Quư Vị để làm Công Việc nêu trên! HỒN DÂN
TỘC đă CHẾT từ lâu trong ḷng của Quư Vị rồi! Đừng tiếp tục NHÂN
DANH cũng như âm mưu bày thêm THỦ THUẬT mới nữa để giở tṛ Mỵ
Dân
Chính Quư Vị cần PHẢI ĂN NĂN, SÁM HỐI, chứ KHÔNG CÓ TỔ QUỐC NÀO
PHẢI ĂN NĂN CẢ!!!
Riêng Tác Giả của ‘Tổ Quốc Ăn Năn’ là NGUYỄN GIA KIỂNG tỏ ra
XỨNG ĐÁNG để được trao tặng ‘Tước Hiệu’ là TRÍ THỨC TÂY HỌC NỬA
VỜI!!!
Lê Việt Thường
CHÚ THÍCH
(1) Lê Việt Thường, 'Cần Cập Nhật Hóa Phương Pháp và Nội Dung
trong Lănh Vực Suy Tư: PHẦN MỘT», http//www.tinparis.net
(2) Nguyễn Gia Kiểng, «Tổ Quốc Ăn Năn», Paris, 2001, tr.52
(3) Idem, tr.XI
(4) Alain Peyrefitte,»Le Mal Francais», Tome 1 & 2, Plon 1976
(5) Nguyễn Gia Kiểng, Idem, tr. 217
(6) Alain Peyrefitte, Idem, tr.47-48
(7) NGK, Idem tr. 98
(8) AP, Idem,tr.62
(9) NGK, Idem tr.71
(10) Idem tr 72
(11) AP, Idem tr. 51
(12) Idem tr. 789
(13) NGK, Idem tr.146
(14) AP, Idem tr. 821-822
(15) NGK, Idem tr. 91
(16) AP, Idem tr. 824
(17) NGK, Idem tr. 26
(18) AP, Idem tr. 801
(19) AP, Idem tr.760
(20) NGK, Idem tr.52-53
(21) AP, Idem tr. 636
(22) NGK, Idem tr. 97
(23) NGK, Idem tr.128
(24) NGK, Idem tr.130
(25) NGK, Idem tr. 132
(26) NGK, Idem tr. 133
(27) NGK, Idem tr. 133
(28) AP, Idem tr. 809
(29) AP, Idem tr. 809
(30) AP, Idem tr. 809
(31) AP, Idem tr. 809
(32) AP, Idem tr. 810
(32) AP, Idem tr. 810
(33) AP, Idem tr.810
(34) AP, Idem tr. 812
(35) AP, Idem tr. 814
(36) NGK, Idem tr 95
(37) NGK, Idem tr. 95-96
(38) NGK,Idem tr. 96
(39) NGK, Idem tr.96
(40) AP, Idem tr.211
(41) AP, Idem tr. 211-212
(42) AP, Idem tr.213
(43) AP, Idem tr. 213-214
(44) NGK, Idem tr. 147
(45) AP, Idem tr. 902
(46) NGK, Idem tr. III
(47) Nguyễn Thị Sông Hương, «Yếu Tính Phá Sản Trong «Tổ Quốc Ăn
Năn»«, Đai Nam 2004, tr.3
(48) NGK, Idem tr.169
(49) Trần Trọng Kim, «Việt Nam Sử Lược», nxb Văn Hóa Thông Tin,
VN 2002, tr.407
(50) Nguyễn Thị Sông Hương, Idem tr.98
(51) Đỗ Bang, «Những Khám Phá Về Hoàng Đế Quang Trung», nxb
Thuận Hóa, 1998, tr.223-224
(52) Đỗ Bang, Idem tr. 225
(53) ĐB, Idem tr. 232
(54) ĐB, Idem tr. 231
(55) ĐB, Idem tr. 239
(56) NTSH, Idem tr. 102
(57) Étiemble, «Confucius», Gallimard, 1966, tr.263
(58) NTSH, Idem tr. 103
(59) NGK, Idem tr. 272
(60) Idem tr. 299
(61) NTSH, Idem tr. 164-165
(62) NGK, Idem tr.275
(63) Idem tr.273
(64) C. Moore, «Essay in East West Philosophy, University of
Hawai, 1951, tr.447
(65) NGK, Idem tr. 295
(66) Lê Việt Thường, «Luật Hồng Đức và Vấn Đề Dân Chủ: Tinh Thần
và Thể Chế», «anviettoancau.net», tháng 07/07
(67) NTSH, Idem tr. 159-160
(68) Hoàng Xuân Hào, «Nhân Quyền Trong Luật Hồng Đức: Niềm Tự
Hào Dân Tộc», Thế Kỷ 21, số 113, th.9/1998, tr. 28-33Tóm lượt
Tác Phẩm của GS Tạ Văn Tài»The Vietnamese Tradition of Human
Rights», University of California, Berkeley, USA, 1988
(69) Beijing Review, «Archaeology finds give clues to
10,000-year Chinese History”, 23-29/03/05, tr. 31
[Trang
Chủ]
[Tác
Giả]
[Lănh
Vực]