Tháng 09/2012
Nhân Chủng
Nguyễn Tiến Nam
PHẦN
HAI:
CLAUDE LÉVI-STRAUSS và
QUAN NIỆM MỚI VỀ
VĂN MINH
1) MỘT QUAN NIỆM MỚI VỀ VĂN MINH
Phần
tŕnh bày trên cho chúng ta thấy địa vị Đặc Biệt, Quan Trọng mà
Lévi-Strauss đă dành cho Huyền Thoại. Thật vậy, ông xem những
truyện Thần Thoại như những Cơ Cấu nỗi lờ phờ trên mặt Ư Thức
nên dễ khai quật, để giúp t́m ra những Dạng Thức căn cơ cho một
xă hội. Ông cho rằng muốn t́m hiểu một xă hội mà lại bỏ bê những
Trang Đầu lịch sử và chỉ biết có Sử Kư, tức Sử Hàng Ngang
(histoire diachronique), là một SA ĐỌA, mà hậu quả là sẽ không
đạt được Cấu Thức của các định chế. Lư do theo ông là trong bất
cứ phương diện nào, chỉ có những BƯỚC ĐẦU mới LỚN LAO, chỉ có
những sáng tạo ban đầu mới VĨ ĐẠI.
Chính v́ thế mà Lévi-Strauss đứng vào phe chống lại thuyết TIẾN
HÓA về Văn Minh, v́ theo ông, là thuyết mưu toan xóa bỏ các nền
Văn Hóa khác để chỉ lấy Âu Châu làm điểm tối hậu, làm tiêu chuẩn
duy nhất; và như vậy th́ các dân tộc khác phải từ bỏ tiêu chuẩn
của ḿnh để theo tiêu chuẩn của Tây Âu. Có thế mới gọi là tiến
bộ văn minh : v́ theo chủ trương Tiến Hóa th́ những sự khác biệt
là giả tạo mà không c̣n là tố chất của các nền văn hóa.
Thế mà theo Lévi-Strauss, sự Tiến Hóa xưa nay không thể đi theo
một chiều hướng nhất định, thẳng tắp mà lại không gặp nguy cơ bị
"trệch hướng" theo ḍng thời gian. Trái lại, chiều hướng có thể
thay đổi bất ngờ, ngẫu biến giống như một con "cờ tướng" có sẵn
nhiều lối đi, nhưng không bao giờ theo một chiều hướng duy nhất.
Tây Phương có tiến xa trong Kỹ Thuật, nhưng lại kém trong các
ngành khác như Tôn Giáo, Mỹ Thuật...vvv.. Chứng cớ là nhiều dân
Cổ Sơ biết tổ chức đời sống đem lại Hạnh Phúc cho nhiều ngưới
hơn bên Âu Châu. Có thể nói họ NGƯỜI hơn những dân Tây Âu văn
minh!(7)
Ông c̣n đưa ra nhiều thí dụ để chứng minh tính chất TƯƠNG ĐỐI
trong các quan niệm về Văn Minh Tiến Bộ. Theo ông, từ vài thế kỷ
nay, văn minh Tây Phương chỉ chú trọng đến việc t́m kiếm những
phương tiện KỸ THUẬT càng ngày càng "mạnh" hơn để phục vụ cho
các nhu cầu Vật Chất của con người. Nếu tiêu chuẩn trên được
chấp nhận, th́ sự phát triển cao thấp của một xă hội được căn cứ
trên số năng lượng được dành cho mỗi cư dân.
Nhưng Lévi-Strauss cho rằng có nhiều loại TIÊU CHUẨN khác nhau
về Văn Minh. Theo ông, nếu tiêu chuẩn được áp dụng là khả năng
Thích Ứng với những Môi Trường địa lư Khắc Nghiệt nhất, th́
không có dân tộc nào bằng dân "Eskimos" ở Bắc Cực hay dân
"Bedouins" ở sa mạc Sahara. Cách đây 13 thế kỷ, Đạo Hồi đă "tổng
hợp" được nhiều h́nh thái khác nhau của đời sống như: Kỹ Thuật,
Kinh Tế, Xă Hội, Tâm Linh..vvv. với Giáo Lư của họ, điều mà
người Tây Phương chỉ mới làm được gần đây với khoa Nhân Chủng.
Nhờ vào đó mà Văn Minh và giới Trí Thức Á Rập đă giữ được vị trí
hàng đầu ở thời Trung Cổ. Người Tây Phương ở thời Cận Đại tuy là
"vua kỹ thuật" nhưng lại có những kiến thức rất "nông cạn" về
tiềm năng và cách điều khiển "bộ máy chúa tể" là thân xác con
người. Đông Phương đă đi trước Tây Phương mấy ngàn năm về phương
diện này, tức về mối liên hệ giữa Tâm Thần và Thân Xác, với các
thuật Yoga của người Ấn, Thiền của người Tàu, thể dục tâm thần
của người thiểu số Maoris...vvv...(8)
Đó là lư do Lévi-Strauss phản đối thuyết Tiến Hóa được hầu hết
người Pháp thời đó theo, trừ hai ông Balandier và Roger Bastide.
Tất cả những người ấy đều có đầu óc Đế Quốc giống như người Cộng
Sản, (dẫu họ có mầu da trắng, vàng hay đen nhưng nên nhớ rằng
thuyết Mác Xít bắt nguồn từ Tây Phương): thật vậy, người Cộng
Sảnï cố công đem ư thức hệ phương Tây trùm lên con người khắp
nơi, mà không kể chi tới những sắc thái dị biệt, với chủ trương
rất "quái đản" là vô gia đ́nh, vô tổ quốc, vô tôn giáo.! V́ thế
nhà nhân chủng học nổi tiếng gốc Anh gọi quan niệm Tiến Hóa trên
kia là NGỤY SỬ.
Do đó, ông Malinowski đưa ra thuyết CHỨC NĂNG (fonctionnalisme)
để chống lại. Ông này cho rằng thuyết Tiến Hóa quá trừu tượng v́
xem xă hội sơ khai như lệ thuộc vào lịch sử Tây Phương. Đó là
lối nh́n cũ kỹ cắm mắt vào những yếu tố lẻ tẻ vụn vặt mà không
chú ư đến toàn bộ làm thành bởi những yếu tố ấy. Vậy cần lập ra
Chức Năng thuyết để nghiên cứu về tác hành của xă hội. Cái đó
nằm ngay trong hiện tại của nó, v́ xă hội ấy chỉ có thể tồn tại
và điều hành được là nhờ những yếu tố hiện tại có trong xă hội
chứ không phải những yếu tố đă khuất dạng trong quá khứ. Và v́
thế mà quan niệm Chức Năng
đi đến chỗ PHỦ NHẬN LỊCH SỬ, phủ nhận BIẾN ĐỘNG. Đó là một quá
đáng khác mà Lévi-Strauss đă muốn tránh.
V́ thế tuy ông rất chú ư đến CƠ CẤU nhưng đồng thời cũng công
nhận rằng nhờ có sự biến chuyển hiện đang xảy ra trong các xă
hội cổ sơ mà ta mới có thể khám phá ra những Cơ Cấu nằm ngầm
trong các xă hội ấy. Những cơ cấu ấy thường h́nh thành từ những
bước sơ khai của mỗi dân tộc, v́ thế Lévi-Strauss đề cao giá trị
của những cái KHỞI ĐẦU coi đó như những GẠCH NỐI giữa hai nền SỬ
HÀNG NGANG (histoire diachronique) và HÀNG DỌC (histoire
synchronique) , v́ lúc đó Tiềm Thức tác động mạnh trên Ư Thức
hơn các đời về sau.
Quyển "La Pensée Sauvage" của Lévi-Strauss có thể xem như "tiếng
chuông sầu chôn táng sự sai lầm của Lévy-Bruhl cho rằng các dân
cổ sơ là lạc hậu, là "chưa tới đợt khoa học lư luận nên gọi là
tiền lư luận". Đó cũng là thành kiến của hầu hết mọi người trong
thế hệ vừa qua. Tự nay với Cơ Cấu ta phải nghĩ khác. Cơ Cấu sẽ
nói với mọi người : "Bạn đừng lấy ḿnh làm thầy, hăy để người
khác tiếp tục là họ. Họ c̣n gần Thiên Nhiên nên cũng gần Căn Cơ
hơn bạn!".(9)
2) MỘT QUAN NIỆM MỚI VỀ LỊCH SỬ
Cơ Cấu Luận không những cống hiến một quan niệm
Mới về Văn Minh như phần trên cho thấy, mà c̣n đem lại một Chiều
Kích MỚI cho lănh vực LỊCH SỬ.
Thường khi nói đến SỬ người ta liên tưởng đến Sử các Biến Cố
(histoire évènementielle) mà Cơ Cấu gọi là Sử Hàng Ngang
(histoire diachronique), Sử Khoa Học hay DUY SỬ (historicisme).
Duy Sử xuất hiện dưới quyền lực của DUY LƯ chú ư đến BIẾN CỐ
(évènement) nghĩa là những sự kiện có thực, đă xảy ra nên có thể
ghi ngày tháng và địa điểm với những nhân vật có thực.
Nhưng với Cơ Cấu th́ nảy ra một loại Sử gọi là Hàng Dọc
(histoire synchronique) vận hành với Tiềm Thức, không cần thể
hiện vào một cá thể, v́ vậy không thể ghi thời điểm và không
điểm, nhưng vẫn gọi được là Sử v́ có THẬT tuy Không Thực (vraie
mais irréelle), mà Nho gọi là "Hữu thực (vraie) nhi vô hồ xứ giả
(irréelle)".
Áp dụng vào Sử th́ "hữu thực" là có những tác động, hay nguyên
lư chỉ dẫn hoặc lư tưởng được cưu mang...nhưng "vô hồ xứ giả"
nghĩa là không cần kết tinh vào cá nhân này hay cá nhân kia. Nhờ
đó nó có thể là Sơ Nguyên Tượng (Archétype) hay Điển Loại tức là
một dạng thức phổ biến, c̣n nằm trong cơi Thiên Thai (mong muốn)
nhưng chưa gặp "bước trần ai", nghĩa là chưa hẳn có ai hiện thực
được như vậy. Nói thế có nghĩa là trong thực tế như trong chuyện
"Đế Minh tuần thú phương Nam" chẳng hạn, không cần có những
người mang tên là Đế Minh, nhưng trái lại, có nguyên lư hướng về
ánh sáng (tuần thú phương Nam), có những tác động tháo lui trước
quân xâm lăng, rồi lấy vợ ở miền Nam, và gọi đó là gặp Vụ Tiên
trên núi Ngũ Lĩnh, tức là trong miền đất có nền văn hóa đi theo
thuyết Ngũ Hành. Tóm lại, có Tác Động ĐIỂN H̀NH, mà không cần
phải có người nào cả! Nếu theo Cơ Cấu, Sử Hàng Ngang (hay Sử Kư)
đem tin hay cho biết biến cố (apprendre) nhiều hơn là giải
nghĩa, th́ Sử Hàng Dọc (hay Huyền Sử) giải nghĩa (expliquer)
nhiều hơn là đem tin.(10)
Và Lư Tưởng là làm sao Quân B́nh hai loại Sử: Sử Kư với Huyền
Sử, Hàng Ngang với Hàng Dọc. Phải chăng chỉ có Việt Nho mới đạt
được thế Quân B́nh nêu trên ? được thấy chẳng hạn qua việc chiết
tự chữ DỊCH kép bởi "Nhật Nguyệt" qua đó NHẬT luôn luôn tṛn,
tượng trưng cho Thường Hằng hay Sử Hàng Dọc ( histoire
synchronique), c̣n NGUYỆT khi tṛn khi khuyết , khi úp khi ngửa,
biểu thị mọi biến hiện đổi thay hay Sử Hàng Ngang ( histoire
diachronique).
Trong khi đó bên trời Tây, Plato chỉ biết ngắm nh́n Lư Giới hay
thế giới Ư Niệm (le monde des Idées) và khinh thường Cuộc Đời
hay thế giới Cảm Xúc (le monde Sensible) bị xem là PHÙ ẢNH. Do
đó, Plato đă trở thành một Triết Gia PHI NHÂN nên cũng PHI LỊCH
SỬ.
Thật vậy, SỬ là sự hiển hiện của NHÂN CHỦ. Nói khác chỉ có SỬ
khi con người là CHỦ. Con vật không có Sử v́ không là Chủ. Con
người thái cổ chưa có Sử v́ chưa thực sự đạt được Nhân Chủ.
Người La Hy chưa đưa Sử vào chương tŕnh Giáo Dục, v́ chưa thiệt
định xong nền Nhân Bản. Và t́nh trạng trên kéo dài ở Tây Phương
cho đến cuối thế kỷ XVII. Chính v́ thế kỷ XVIII nói đến Nhân Bản
nhiều nên cũng vôi vàng đưa Sử vào chương tŕnh học. Và cũng từ
đấy mới nhận ra thiếu Sử không chỉ là thiếu Sử, mà c̣n hàm chứa
nhiều cái hại cho con người. Bởi vậy từ đó mới TÔN THỜ SỬ và đẩy
đến độ DUY SỬ để lại gây ra một sự QUÁ ĐÁNG khác là chạy theo
biến cố hàng ngang với nhịp độ càng ngày càng điên loạn, để đuổi
theo sự hội nhập càng ngày càng trở nên diệu vợi, khó ḷng lập
lại được thế quân b́nh cần thiết giữa Cơ Cấu và Biến Cố (giữa CƠ
và DỤNG).(11)
V́ thế mà Lévi-Strauss đă cảnh cáo là đừng để thời gian (duy sử)
tiêu diệt ḿnh (= ne laissons pas le temps nous détruire).(12)Và
đó là một trong những lư do của sự xuất hiện của Cơ Cấu. Nhưng
rồi nhiều tay Cơ Cấu lại đi đến chỗ Chối Sử, rồi Chối luôn cả
Con Người, biến TRIẾT thành PHI NHÂN, PHI SỬ, PHI CHÍNH TRỊ.
Đó là cái ṿng luẩn quẩn, khiến phần lớn các Cơ Cấu gia QUAY LẠI
LỐI CŨ của người xưa, của Hegel chẳng hạn, cho rằng chỉ Toàn Thể
mới có, c̣n thành phần là những con người Cá Thể th́ gần như
không có! Chỉ Hệ Thống mới có, chứ tôi, một cá thể trong xương
trong thịt hầu không có!
Tóm lại, có lẽ từ trước cho đến nay, chưa có một Triết Gia Tây
Phương nào đặt nổi một nền tảng vững chắc cân đối cho một quan
niệm Lịch Sử. Điều trên có nghĩa là Triết Tây vẫn c̣n đong đưa
giữa hai thái cực:
-hoặc CHỐI SỬ với câu "dưới ánh mặt trời không xảy ra cái chi
mới hết"
-hoặc DUY SỬ với câu" không thể tắm hai lần trong cùng một ḍng
sông"
Sự Thật không có với những người ôm câu này hay câu kia, mà nó
nằm trong quan niệm SỬ HAI CHIỀU:
- chiều Hàng Dọc hay Huyền Sử gần như BẤT BIẾN
- chiều Hàng Ngang hay Sử Kư vẫn BIẾN
Có như vậy mới "DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN" !
Liệu Cơ Cấu có đạt được cùng chăng ? Tuy trong "Race et
Histoire", ở phần cuối sách, Lévi-Strauss có vẻ nghiêng sang BẤT
BIẾN, nhưng một mặt trước đó, ông cũng đă cố gắng cho Sử Kư hay
Sử Hàng Ngang một Giá Trị nào đó, cũng như ông đă ư thức được sự
quan trọng của chữ H̉A qua việc đề cao NHẠC. Cho nên ít nhất,
Lévi-Strauss cũng đă đi xa hơn bất cứ nhà Cơ Cấu học Tây Phương
nào khác trên con đường nói trên.(13)
Ngoài ra, ai cũng biết NHẠC được Việt Nho tôn trọng như "Bà
Chúa" cho mọi sự H̉A HỢP: ḥa Trời với Đất, ḥa Nam với Nữ, ḥa
Sử Kư với Huyền Sử...vvv...
Mà nét đặc sắc của Claude Lévi-Strauss là ông cũng quan tâm tới
NHẠC, coi "Nhạc như mầu nhiệm tối hậu cho các khoa học về con
người, một mầu nhiệm mà các khoa nhân văn đều vấp phải, nhưng
chính Nhạc là kẻ giữ ch́a khóa mở vào mọi tiến bộ." Ông viết
tiếp: "Trên những thanh âm và tiết diệu Nhạc tác động trong một
khoảng đất trống là thời gian sinh lư của thính giả dùng để nghe
Nhạc, đó là thứ thời gian chạy dài cách tuyệt vọng v́ bất khả
phục hồi, nhưng Nhạc lại biến đổi nó thành một toàn thể hàng dọc
có đủ lư do tồn tại khép kín trên ḿnh. Đến nỗi trong lúc nghe
Nhạc, chúng ta như bước vào cơi bất tử, khiến cho tâm thức thấy
ḿnh thông hội với cơ cấu thiên nhiên vô thức. Một khi đă đạt
đến cơi cơ cấu vô thức của tinh thần đó rồi, nhà cơ cấu van xin
người ta băi bỏ mọi công tŕnh đi trước để hiến trọn thân tâm
cho nền thẩm mỹ trầm lặng đặng thiết lập tương quan thầm lặng
với vũ trụ".(14)
Có lẽ cuối cùng Cơ Cấu luận gặp Việt Nho ở đợt "THÀNH Ư NHẠC"
chăng ?!
3) THỜI ĐỒ ĐÁ MỚI VỚI VĂN MINH NHÂN LOẠI
Tuy nhiên, Việt Nho và Cơ Cấu luận "gặp nhau"
không chỉ ở lănh vực Nhạc, mà c̣n ở nhiều địa hạt khác nữa, đặc
biệt với mối liên hệ giữa quan niệm của Claude Lévi-Strauss về
địa vị của thời Đồ Đá Mới (l'Age Néolithique) đối với Văn Minh
Nhân Loại, và khám phá Khoa Học gần đây cho thấy Tổ Tiên Lạc
Việt có lẽ đă khai sáng ra nền văn minh Nông Nghiệp Đầu Tiên của
Nhân Loại tại Đông Nam Á.
Người ta thường đặt nặng tính chất Quan Trọng của các khám phá
khoa học gần đây và xem nhẹ các phát kiến của thời xa xưa, như
thành kiến c̣n sót lại ngay trong các sách của ngành Nhân Chủng
không lâu trước đây : chẳng hạn sự khám phá ra Lửa th́ cho là do
t́nh cờ của sấm sét hay một cơn cháy rừng nào đó, hoặc việc Nấu
Nướng là kết quả của một con mồi t́nh cờ bị thiêu rụi..vvv..
Theo Lévi-Strauss, lối nh́n "ngây thơ" đó bắt nguồn từ sự kiện
là đại đa số hoàn toàn "mù tịt" về tính chất Phức Tạp và Đa Dạng
trong các "thử nghiệm" cần thực hiện trước khi đạt được kết quả,
ngay đối với các khám phá kỹ thuật đơn giản nhất.(15)
Chính vào thời Đồ Đá Mới mà Nhân Loại đă phát minh ra những Kỹ
Thuật căn bản cần thiết cho một nền Văn Minh như Canh Nông, Gia
Súc, nghề Dệt, làm Đồ Gốm...vvv...Những phát minh căn bản này
không phải ngẫu nhiên mà có, trái lại, là kết quả của không biết
bao nhiêu nỗ lực của con người.
Mỗi kỹ thuật _ đồ gốm, dệt, trồng trọt, chăn nuôi _ đ̣i hỏi hằng
bao thế kỷ quan sát có phưong pháp, hằng bao giả thuyết táo bạo
được đem kiểm chứng cùng hằng bao thí nghiệm được làm đi làm
lại.
Muốn trồng một loài cây dại, nuôi một loài thú hoang để ăn thịt,
muốn chế tạo đồ gốm, muốn tạo nên những kỹ thuật canh tác và dẫn
thủy nhập điền, muốn biến những hạt, rễ cây độc thành thực phẩm
hoặc dùng độc tính của chúng để đi săn, đánh nhau, làm thuốc,
cần phải có một thái độ Tinh Thần thật sự Khoa Học, luôn luôn
thèm khát t́m hiểu một cách Không Vụ Lợi. Ấy là chưa kể đến
phương thức luyện kim hàng mấy ngàn năm trước, tất cả bắt buộc
con người phải có khả năng kỹ thuật và lư luận rất cao.
Con người thời Đá Mới như vậy đă thừa hưởng một truyền thống
Khoa Học dài.(16) Điều ngoạn mục ở đây là sự nghiệp Vĩ Đại này
đă diễn ra một cách tốt đẹp, liên tục và thành công trong khi
CHƯA CÓ CHỮ VIẾT. Sở dĩ sự kiện này cần phải được nhấn mạnh là
v́ chúng ta thường nghe nói rằng: "Những dân tộc có chữ viết có
khả năng tích lũy kinh nghiệm và v́ vậy mau tiến hơn, trong khi
những dân tộc "mù chữ" v́ không thể lưu giữ kinh nghiệm quá khứ
nên không có lịch sử, không có ư thức sâu xa về bất cứ dự định
nào".
Vậy làm sao giải thích sự TR̀ TRỆ hằng bao ngh́n năm từ thời Đá
Mới cho đến khi Khoa Học Hiện Đại phát sinh mà ít nhất một nửa
kỳ gian này Nhân Loại đă CÓ CHỮ VIẾT ? Làm sao giải thích là
Kiến Trúc của người Ai Cập và người Sumer "có chữ viết" cũng
không hơn ǵ kiến trúc của một số dân tộc Da Đỏ "mù chữ" ?
Theo Lévi-Strauss, từ khi phát minh ra Chữ Viết đến khi Khoa Học
Hiện Đại phát sinh, nghĩa là trong khoảng 5000 năm, kiến thức
của thế giới phương Tây chỉ có giao động chứ không có gia tăng.
Giữa nếp sống và nghĩ của một công dân Hy Lạp, La Mă và nếp sống
một người dân Tư Sản châu Âu thế kỷ 18, không có sự khác biệt
lớn.
Đành rằng ta khó ḷng quan niệm được sự phát triển của Khoa Học
vào thế kỷ 19 và 20 nếu không có chữ viết: tuy nhiên, điều trên
là CẦN song CHƯA ĐỦ!
Trái lại, Lévi-Strauss cảnh báo chúng ta rằng Chữ Viết xuất hiện
cùng với những Đô Thị lớn, những Đế Quốc Trung Đông như Ai cập,
Á Đông như Trung Hoa, nhất là Chế Độ NÔ LỆ với cảnh NGƯỜI BÓC
LỘT NGƯỜI. Theo ông, vai tṛ đầu tiên của Chữ Viết thật ra không
phải là truyền bá Văn Hóa mà để Kiểm Soát, Nô Lệ hóa dân chúng
bằng những tờ khai gia đ́nh , thẻ căn cước, luật lệ...vvv...Nói
khác đi, Chữ Viết đi đôi với sự h́nh thành các xă hội Phân Chia
thành Giai Cấp : giai cấp Thống Trị xử dụng Chữ Viết như một khí
cụ nhằm đàn áp và bóc lột giai cấp Bị Trị (17)
Tóm lại, vào thời Đồ Đá Mới, với sự đóng góp nền tảng của Tổ
tiên Lạc Việt ( căn cứ theo các khám phá mới nhất của Khoa Học),
Nhân Loại đă hoàn thành những Bước Tiến Vĩ Đại mà KHÔNG CẦN ĐẾN
CHỮ VIẾT!
Nhưng Lévi-Strauss c̣n đi xa hơn nữa khi ông so sánh cuộc Cách
Mạng TÂN THẠCH với cuộc Cách Mạng KỸ NGHỆ. Ông viết: "Cái gọi là
Tiến Bộ KỸ THUẬT đă làm tan ră hàng tỷ cơ cấu thiên nhiên độc
đáo và không thể thay thế, tạo nên một trạng thái mất quân b́nh
thường trực cho nhân loại..." "Sự thoái bộ của nhân loại đă xẩy
ra và càng ngày nhân loại càng xa rời trạng thái mà Jean Jacques
Rousseau cũng như tôi đều biểu đồng t́nh: "trạng thái Trung
Dung" (Juste Milieu) : trung dung giữa sự vô tư lự thuở sơ khai
và sự hăng hái quá mức của tự ái con người" hôm nay.(18)
Và theo Lévi-Strauss , Nhân Loại đă đạt được Đạo TRUNG DUNG vào
thời ĐỒ ĐÁ MỚI !
4)
CƠ CẤU LUẬN VÀ VIỆT NHO
Phần tŕnh bày trên đă cho chúng ta thấy nhiều điểm Tương Đồng
giữa Cơ Cấu luận và Việt Nho như việc đề cao Nhạc, như nhấn mạnh
đến địa vị đặc biệt của thời Đồ Đá Mớiù đối với Văn Minh Nhân
Loại...vvv..
Ngoài ra, trong khi tŕnh bày lư thuyết Nhân Văn của ḿnh, những
từ ngữ như "Điểm Nối", "Tương Quan", "Liên Hệ", "Giao Liên", "Mâu
Thuẫn", "Đối Đáp", "Phối Hợp"...vvv.trở đi trở lại nhiều lần.
Vậy nên h́nh như có một mối liên hệ sâu xa nào đó giữa các từ
ngữ trên của Cơ Cấu luận và chữ TƯƠNG là từ ngữ Nền Tảng trong
Dịch Kinh và Việt Nho.
Vậy nên, Cố Triết Gia Kim Định mới viết: "Việt Nho chính là Cơ
Cấu". "V́ Cơ Cấu là ǵ nếu không là một cố gắng Tổng Hợp. Mà
Tổng Hợp đến cùng cực là đưa chữ TƯƠNG vào cơi học độc khối im
ĺm của văn hóa Cổ Điển. Mà đă nói đến Tương là phải có những
hạn từ ĐỐI ĐÁP, đă đối đáp là có thể vẽ ra ĐỒ THỊ và SỐ ĐỘ..vvv.
Đó là những nét Căn Bổn của Nho Giáo với câu "âm dương tương
thôi" cũng như là đạo Trung Dung của Thái Ḥa. Có Tương Quan tất
phải có hai hạn từ, và hai hạn từ đó gọi là "âm dương" hay "trời
đất, "nam nữ", "lư t́nh"..vvv..Và ĐẠT ĐẠO là đạt thế B́nh Quân
giữa hai hạn từ đó.
Do đó, Cố Triết Gia đă đi theo lối CƠ CẤU trước khi nghe nói về
Cơ Cấu luận. Sau khi đă đọc Lévi-Strauss, nhất là về sự Kiến Tạo
MÔ THỨC, Ông có cảm tưởng là Tiên Nho thời rất xa xưa đă kiến
tạo ra các Mô Thức: đó là Tam Tài, Ngũ Hành và các hệ quả theo
sau (Âm Dương, Tứ Tượng, Bát Quái, Cửu Trù..). Và v́ thế nếu
phải t́m ra Ông TỔ của Cơ Cấu th́ chính là các Vua của Huyền Sử
Việt Nho : Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, Đại Vũ...
Điều trên c̣n được xác nhận qua nhận xét của nhà nghiên cứu
Jean-Marie Aujas trong cuốn "Clefs pour le Structuralisme". Tác
giả viết: "Lévi-Strauss đă được khởi hứng lập ra Cơ Cấu luận là
do một Học Giả về Nho Giáo là Marcel Granet, c̣n những tài liệu
cũng như các điều tra của các nhà Nhân Chủng người Mỹ chỉ là tùy
phụ".(19)
Với những ai đă đọc quyển "la Pensée Chinoise" của M. Granet th́
câu trên không thể làm ngạc nhiên là v́ những Đồ Thị, Số Độ của
Đại Toán đă có tràn ngập trong sách đó rồi. Hỏi rằng vậy tại sao
Cơ Cấu lại xuất hiện như một Khoa mới lạ ? Thưa trước hết v́
Lévi-Strauss có nhờ nhiều vào công tŕnh của các Khoa mới như
Ngữ Lư học, Tân Toán học và Uyên Tâm, Nhân Chủng vvv Nhưng nhất
là v́ phần khác, Cơ Cấu của Việt Nho đă bị Hán Nho vùi giập : Âm
Dương, Ngũ Hành bị hiểu cách Tai Dị, Phù Pháp, c̣n Tam Tài th́
không c̣n ai nhận ra ư nghĩa sâu xa của nó nữa.
V́ thế khi Cố Triết Gia khai quật lên th́ nó chiếu ra những tia
sáng thực mới lạ như đă tŕnh bày trong quyển "Chữ Thời". C̣n
tác phẩm "Cơ Cấu Việt Nho" được viết ra là nhằm Tân Thời hóa môn
học cổ truyền của Việt Nho: Cố Triết Gia tŕnh bày về Cơ Cấu
hiện đại bởi cách này sẽ giúp phần lớn vào việc Minh Nhiên hóa
những khả năng Tàng Ẩn trong Cơ Cấu Việt Nho. Những khả thể đó
sẽ hiện lên chói chang khi đặt bên cạnh những "khám phá" của
Thời Mới. Nhờ đó chúng ta sẽ dễ nhận thức hơn những dị biệt giữa
Cơ Cấu của người xưa
và của người nay.(20)
Nguyễn Tiến Nam
(Hết Phần Hai)
CHÚ THÍCH
(7) Kim Định, "Cơ Cấu Việt Nho", Nguồn Sáng,
SG, 1973, tr.27-28
(8) Claude Lévi-Strauss, "Race et Histoire",Ed.Gontier,
1961, France, tr.46-47
(9) Kim Định, Idem, tr.37
(10) Idem, tr.29-30
(11) Idem, tr. 46, Yvan Simonis, Idem,
tr. 200
(12) Kim Định,Idem tr.47
(13)Kim Định, Idem tr. 49
(14) Idem tr. 50
(15) Claude Lévi-Strauss, "Race et Histoire", Idem, tr.57
(16) Trần Đỗ Dũng, "Luận Lư và Tư Tưởng trong
Huyền Thoại Tŕnh Bày, 1967, SG, tr. 100-102
(17) Idem, tr. 197-203
(18) Idem, tr.194-197
(19) Jean-Marie Aujas, "Clefs pour le Structuralisme", Ed.
Seghers, tr. 88 Kim Định, Idem, tr. 37
(20) Idem, tr. 38
[Trang Chủ]] [Tác
Giả] [Lănh
Vực]