Tháng 09/2012
Lịch Sử
Virgile Pinot
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỄN ĐÔNG TRÊN 'THẾ KỶ ÁNH SÁNG'
(Phần Hai)
Lời Nói Đầu
Với sự ‘ra đời’ của Chủ Thuyết VIỆT NHO được kiện chứng bởi
những chứng cớ và khám phá Khoa Học càng ngày càng nhiều và
‘không thể chối căi được’, xuất hiện một Chân Lư MỚI trong lănh
vực Lịch Sử và Khảo Cổ liên quan đến miền Viễn Đông như sau:
‘Không phải Hoa Hán, mà Lạc Việt và Bách Việt mới là NGUỒN GỐC
của Nho Giáo và Văn Minh Viễn Đông’.
Tuy nhiên, Sự Thật này mới xuất hiện từ khoảng nửa thế kỷ nay,
do đó cần phải có thời gian để giới Trí Thức, Học Giả Việt Nam
cũng như Quốc Tế 'làm quen’ với Thực Tại MỚI này. V́ các lư do
nêu trên, khi đọc bài viết dưới đây, nếu mỗi khi thấy từ ‘Trung
Hoa’ th́ xin Quư Độc Giả hiểu cho là ‘Viễn Đông’,
Nhân tiện cũng xin giới thiệu cùng Quư Vị hai Tác Phẩm rất Giá
Trị: ‘La Chine et la Formation de l’Esprit Philosophique en
France (1640-1740)' của Học Giả gốc Pháp Virgile Pinot, và
‘Europe and China’ của Học Giả gốc Anh G.F. Hudson.
Điểm Đặc Sắc của hai Tác Phẩm này là qua đó, hai Tác Giả hé cho
chúng ta thấy tầm Ảnh Hưởng tối quan trọng của Viễn Đông trên
‘Thế Kỷ Ánh Sáng’ về phương diện Tư Tưởng cũng như sự Thành H́nh
của nền Dân Chủ Tây Phương.
Diễn Đàn ‘Minh Triết Việt’ xin hân hạnh lần lượt đăng tải các
bài viết liên quan đến Nội Dung của hai Tác Phẩm nêu trên.
BBT 'Minh Triết Việt'
PHẦN
HAI
Như
đă nói ở phần trước, Đạo Đức và Chính Trị học của Trung Hoa là
hai phát hiện lớn của các thế kỷ XVI và XVII v́ đă đáp ứng với
các mối bận tâm đặc thù của thời kỳ này. Nhưng càng ngày người
ta càng tỏ ra băn khoăn đối với vấn đề Tôn Giáo của người Trung
Hoa và sự kiện này báo trước cuộc Tranh Căi sắp tới về các Lễ
Nghi Trung Hoa.
Thật ra, cuộc tranh căi trên đây chỉ là một chặng,
tuy đặc biệt dữ dội, của t́nh trạng thù nghịch không dứt giữa
các giáo sĩ Ḍng Tên và các địch thủ của họ. Lâu trước khi vấn
đề Trung Hoa được đặt ra, đối với vấn đề ‘Cứu Rỗi linh hồn của
các người Dị Giáo’, Ḍng Tên đă có một thái độ cấp tiến, cởi mở
rất gần với chủ trương của những người theo chủ nghĩa hoài nghi
như La Mothe le Vayer, và v́ vậy đă bị các người theo đạo Tin
Lành chê bai, mạt sát.
Luận cứ về ‘Tội Lỗi Triết Lư’, cũng chỉ là sự
giải thích về mặt Thần
Học các ư tưởng mà Ḍng Tên đă bênh
vực từ lâu liên quan như vừa nói ở trên,
đến sự ‘cứu rỗi các người dị giáo’. Và tai tiếng mà họ
gây ra cho thấy rằng trong những năm cuối thế kỷ XVI, có một sự
chống đối mạnh mẽ có tổ chức chống lại
Ḍng Tên. Ít lâu sau, ‘Lá Thư’ của năm Giám Mục tố giác tính
cách tai tiếng và nguy hiểm trong luận cứ của Ḍng Tên mà theo
họ chỉ ‘để nịnh bợ người Trung Hoa’ mà thôi. Điều này cho thấy
quyết tâm của các địch thủ Ḍng Tên nhắm vào việc tấn công chính
luận thuyết Thần Học của họ qua trung gian các ư tưởng mà các
giáo sĩ Ḍng Tên có dịp tŕnh bày liên quan đền tục Thờ Cúng Tổ
Tiên của người Trung Hoa.
Cuốn sách của L.M. Le Comte được sử dụng như một
cái cớ, nhưng người ta phải đợi bốn năm trời trước khi đánh liều
tấn công Ḍng Tên. Lư do là trong khoảng thời gian vừa qua,
Bossuet rất bận bịu với ‘trận chiến’ chống lại Fénelon. Đến năm
1700 th́ Bossuet đă rảnh tay và Hội Đồng Giáo Sĩ cũng sắp có
phiên họp. Ngoài ra, trong bốn năm qua, uy tín của ‘bộ ba’:
Bossuet-Tổng Giám Mục Paris-Giám Mục Chartres ngày càng lớn mạnh,
nhờ sự đở đầu của Bà De Maintenon.
Thời cơ chưa bao giờ thuận tiện hơn.
Tiếng tăm rất lớn mà vào năm 1700 vụ tranh căi về
các Lễ Nghi của người Trung Hoa làm vang dội khắp Âu Châu, phản
ảnh sự quan trọng lớn lao mà người thời này gán cho những lư do
khiến các giáo sĩ Ḍng Tên bị kết án hơn là vào chính sự kết án.
Trong cuộc tranh căi, vấn đề các lễ nghi và các dễ dăi mà Ḍng
Tên dành cho người Trung Hoa trong vấn đề này – thật ra cũng chỉ
là vấn đề kỷ luật nội bộ của Giáo Hội mà thôi – đă biến mất
trước một vấn đề khác quan trọng hơn với đầy hiểm nguy kèm theo
v́ đây không phải chỉ là một vấn đề Thần Học mà c̣n là một vấn
đề Triết Lư nữa, theo ư nghĩa mà thế kỷ XVIII sau này sẽ gán cho
từ ngữ ‘Triết Lư’: người Trung Hoa thờ Ngẫu Tượng, Hữu Thần hay
Vô Thần ? Đại Học Sorbonne tuy không quyết định theo phe nào
trong vấn đề Tôn Giáo của người Trung Hoa, nhưng có vẻ thiên về
ư kiến cho rằng họ Hữu Thần.
Phần tiếp tục của cuộc tranh căi về Lễ Nghi của
người Trung Hoa và thái độ cứng rắn của các địch thủ Ḍng Tên
đưa lại những hậu quả c̣n lớn lao hơn nữa. Thật vậy, các địch
thủ Ḍng Tên cố gắng chứng minh rằng người Trung Hoa Vô Thần. Mà
theo các nhà Thần Học, việc khẳng định rằng t́nh trạng Vô Thần
có thể hiện hữu trong thực tế có khuynh hướng làm giảm bớt sự
ghê tởm tự nhiên mà theo họ bất cứ ai đều phải có trước t́nh
trạng này. Ngoài ra, các nhà Thần Học tin rằng, ngươc lại với
chủ trương của Bayle, t́nh trạng Vô Thần không những có tính
cách xung khắc với Đạo Đức, mà c̣n không thuận tiện cho sự
hiện hữu của một xă hội nữa. Do đó, cho rằng Trung Hoa, mà xă
hội đă được xây dựng một cách vững chắc v́ đă hiện hữu từ nhiều
ngàn năm nay, là một dân tộc Vô Thần, th́ điều này chỉ làm lợi
cho Bayle mà thôi. Quả nhiên, Bayle không quên sử dụng luận cứ
này đă được ông phổ biến qua trung gian tác phẩm ‘Dictionary’
cho mọi tầng lớp xă hội thời này, rằng người Trung Hoa theo
thuyết Vô Thần.
Tóm lại, cuộc tranh căi về các Lễ Nghi của người
Trung Hoa đặc biệt có lợi cho đường lối của Bayle: trường hợp
Trung Hoa là thí dụ tốt nhất có thể có nhằm làm rường cột cho
các ư tưởng chính yếu mà Bayle đă chống đở
trước khi lưu tâm đến vấn đề Trung Hoa.
Mặt khác, các giáo sĩ Ḍng Tên cho thấy rằng dẫu
người Trung Hoa không được mặc khải, nhưng nhờ Tôn Giáo của họ
rất gần với phái Hữu Thần, đă xây dựng được một nền Đạo Đức
thường khiến người ta liên tưởng cũng như so sánh với nền Đạo
Đức Thiên Chúa Giáo.
Như vậy th́ Mặc Khải
không c̣n là điều cần thiết để kiếm ra các nguyên tắc Đạo Đức mà
người Thiên Chúa giáo thường tự hào: các Tôn Giáo khác cũng kiếm
ra được vậy. Nhưng sự kiên tŕ của các địch thủ Ḍng Tên trong
việc chứng minh tính chất Vô Thần của người Trung Hoa có ảnh
hưởng c̣n nghiêm trọng nữa. Nếu thật sự người Trung Hoa Vô Thần
và nếu người ta không tranh căi về tính ưu tú của nền Đạo Đức
của họ - người ta quên làm điều này, ít nhất trước Renaudot
nhưng Renaudot tới quá trễ - th́ như vậy là công nhận Bayle có
lư khi ông chứng minh với những lập luận hợp lư cho rằng Vô Thần
cao hơn Thờ Ngẫu Tượng , tức Hữu Thần về mặt luân lư và xă hội.
Khi Bayle ghi nhận tính chất Vô Thần của người Trung Hoa, điều
này chứng tỏ rằng Đạo Đức và Tôn Giáo là hai điều xa lạ nhau.
Trong vụ tranh căi này, có thể Đạo Đức không bị mất mát ǵ ,
nhưng Tôn Giáo đánh mất vai tṛ cao siêu mà người ta thường dành
cho nó: Tôn Giáo hết c̣n là nền tảng của xă hội.
Với thời gian, cuộc tranh căi về các Lễ Nghi
Trung Hoa nếu không chấm dứt th́ cũng dịu xuống, nhưng sự quan
tâm đến Trung Hoa không v́ vậy mà bị gạt bỏ. Lư do là v́ sự ṭ
ṃ của người Âu Châu thời này đă bị kích thích quá cỡ bởi xứ sở
này mà Tôn Giáo đă là nguyên nhân của những bất đồng ư kiến mănh
liệt giữa các nhà Thần Học. Mà hệ quả là những người không tín
ngưỡng(libertin) trở thành mạnh dạn hơn lên như La Peyrère mà
theo sau Bayle, chứng minh tính ‘bất khả hữu’ của nguồn gốc thế
giới theo cách mô tả của Thánh Kinh.. Hoặc như Tyssot de Patot
nói bóng gió về tính vĩnh cửu của thế giới.
Vậy nên, vấn đề Niên Đại học và đặc biệt khía
cạnh liên quan đến sự ăn khớp giữa các niên đại ngoại giáo với
niên đại của Thánh Kinh sẽ trở thành trong các thập niên đầu
tiên của thế kỷ XVIII, một trong những vấn đề quan trọng nhất mà
các nhà bảo vệ sự Chính Thống tôn giáo phải giải quyết.
Vấn đề càng trở nên chính yếu khi mà khám phá
khoa học của hiệp sĩ De Louville về sự biến thiên của độ nghiêng
hoàng đạo, có vẻ nghiêng về các ư tưởng của giới ‘vô tín ngưỡng’
(libertin) liên quan đến tính vĩnh cửu của thế giới. Nếu thực sự
có một thời đại mà ngày và đêm dài ngang nhau suốt cả năm th́ hệ
quả là Trái Đất được hưởng một Mùa Xuân bất tận. Do đó, các
chuyện kể của các Thi Sĩ về thời Hoàng Kim không phải là truyện
dă tưởng, mà chỉ là hồi ức lại những truyền thống rất xa xưa. Và
những chuyện kể trong Thánh Kinh về vẻ đẹp của Thiên Đàng hạ
giới, về vườn Địa Đàng nơi đây người ta không biết đến cả cảnh
sương mù lạnh lẽo của Bắc Cực lẫn cảnh
nóng bức của miền nhiệt đới, cũng chỉ là mô phỏng lại theo các
truyền thống vừa nêu trên mà thôi.
Đến Fréret th́ mối bận tâm chính yếu là áp dụng
phương pháp Phê B́nh vào chính Niên
Đại học của các dân tộc, nhất là Trung Hoa, một cách độc lập đối
với các bận ḷng về mặt Tôn Giáo. Phương pháp của Fréret là lập
những dữ kiện chính xác và có kiểm chứng, mà không cần để ư đến
các hậu quả có thể có từ chính các dữ kiện nêu trên. Khi làm
công việc này mặc dầu Fréret chưa đặt vấn đề đối với Niên Đại
học của Thánh Kinh, nhưng cũng có thể khiến độc giả thắc mắc và
đặt câu hỏi: Làm sao một dân tộc sống rất xa những vùng đất mà
người Âu Châu thời đó c̣n xem là cái ‘Nôi’ của Nhân Loại, lại là
một dân tộc đông dân , văn minh và đă có khả năng dư tính được
các hiện tượng Nhật Thực, Nguyệt Thực…..vào thời kỳ sau trận Đại
Hồng Thủy một chút mà thôi?
Với Voltaire th́ tất cả sự thận trọng, dè dặt mà Fréret xem là
cần thiết, đă được để qua một bên. Từ những hàng chữ đầu tiên
của tác phẩm ‘Histoire Universelle’, Voltaire cho thấy tính xác
thực của Niên Đại học Trung Hoa với tính chất Cổ Đại của nó,
không thể dàn hóa với Niên Đại học của Thánh Kinh được, cũng như
‘dán vào tai’ độc giả điều sau đây: Niên Đại học của Thánh Kinh
không thể dùng làm chuẩn mực cho Niên Đại học của các dân tộc Dị
Giáo v́ Niên Đại học của họ hơn xa Niên Đai học của Thánh Kinh !
(1)
Virgile Pinot
CHÚ
THÍCH
(1)
Virgile Pinot, 'La Chine et La Formation de L'Esprit
Philosophique en France', Slatkine Reprints, Genève, Suisse,
1971
[Trang
Chủ] [Tác
Giả] [Lănh
Vực]