|
|
|
Tháng 09/2012
Triết Việt
Đông Lan
Việt Lịch 4891

Ngày
Tiên, Tháng Rồng
“
Tổ Nước cũng là Tổ Người”
Triết Gia
Kim Định.
Từ minh tâm: “ Tổ Nước cũng là Tổ Người” hồn phiêu
lăng như chắp cánh chim Hồng, chim Lạc bay thẳng về Tổ Ấm có
tiếng ca huyền thoại ngàn năm của nước Việt Linh. Trong gió Mùa
Xuân c̣n vương, ngày Tiên tháng Rồng con xin dâng lên Quốc Tổ đoá
hoa An ,đoá Quốc Hoa mà Thầy của con đă gieo hạt, ươm trồng bằng
tất cả tâm tư của một đời vượt lên, vượt qua cả chính ḿnh. Cho
con biết Yêu và Mến, suối nguồn minh triết quê hương.
HUYỀN SỬ TIÊN RỒNG
MINH TRIẾT UYÊN NGUYÊN của DÂN TỘC
Huyền Thoại là
tự truyện của một dân tộc được kể lại trong cái lung linh sử
mệnh của dân tộc. Sử mệnh của một dân tộc là con đường tiền nhân
mặc khải qua những thăng trầm, của phút nội tỉnh, những phút
trổi vượt về miền tâm linh siêu việt, của những ước vọng hừng
hực LỬA SINH SINH
không mất đi trong hành tŕnh sinh tử.
Do đó,
Huyền sử là Tiềm Thức Cộng Thông của Dân Tộc, nơi đó tiền nhân
gửi gấm linh hồn vượt không gian và thời gian qua huyền thoại.
Thật thế,
Huyền sử là di bảo thiêng liêng, là giá trị tinh thần của dân
tộc do bao đời kết tinh, là linh hồn của lịch sử. Huyền sử là ư
nghĩa của sử, là đạo lư của sử, là mạch sống đời đời của sử. Nếu
sử kư là Sử Hàng Ngang, nhằm
ghi lại sự kiện bám sát vào không gian và thời gian, th́ Huyền
Sử là Sử Hàng Dọc, vượt lên,
bao trùm không thời, đi vào cội nguồn của hồn sử. Những biến cố
của sử kư có tính cách cá thể, chỉ xẩy ra một lần, trong một
không gian và thời gian nhất định. V́ thế, địa danh và niên đại
phải được ghi chép rơ rệt và trở thành quan trọng. Nhưng trái
lại, ư nghĩa của Huyền sử nhắm tới cái ǵ phổ quát, vượt lư trí
phân minh, đi vào miền thâm sâu của tiềm thức, tiếp cận miền vi
tế của tâm linh. V́ thế những địa danh, niên đại, cũng như các
nhân vật phải được hiểu một cách co dăn, trừu tượng, v́ Huyền sử
là đạo lư của dân tộc được gửi gấm qua những mảnh vụn lịch sử.
Do đó, nếu sử kư là Sử Ṿng Ngoài của những biến cố Ngoại Diện,
th́ Huyền Sử là Sử
Ṿng Trong của Tâm Linh Dân Tộc.
Hay nói
cách khác, nếu sử kư là câu chuyện của Tử Sinh, th́ Huyền sử là
cơi Sinh Sinh Bất Tuyệt.
Do đó,
muốn tiếp cận Ánh Sáng Tâm Linh của Huyền Sử, con người cần
phải thả lỏng các ràng buộc của quy luật sử kư, cần dọn tâm hồn
cho trống rỗng, tâm không nghiêng lệch, ô nhiễm từ bất cứ ư niệm
nào. Cùng nhau, chúng ta, những người con Việt muôn phương, mở
ḷng ra, ḷng Hư Không, và bắt đầu cung kính mở trang đầu tiên
Huyền Sử Việt. Cuộc hội thoại với Tâm Linh Dân Tộc chỉ cần một
hành trang duy nhất là không một hành trang ǵ được mang theo –
Đọc Huyền Sử
với Tâm Vô Tư, Vô Nhiễm, Vô Cầu.
(
Chính Văn)
Truyện Hồng Bàng
Cháu ba
đời Viêm Đế họ Thần Nông tên là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, rồi đi
tuần đến núi Ngũ Lĩnh, gặp được nàng con gái Vụ Tiên đem ḷng
yêu mến mới cưới về, sinh ra Lộc Tục, dung mạo đoan chính, thông
minh túc thành; Đế Minh lấy làm lạ, cho nối ngôi vua; Lộc Tục cố
nhường cho anh, Đế Minh lập Đế Nghi làm tự quận cai trị phương
Bắc, phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương cai trị phương Nam, đặt
quốc hiệu là Xích Quỷ Quốc.
Kinh Dương
Vương xuống thủy phủ, cưới con gái vua Động Đ́nh là Long Nữ,
sinh ra Sùng Lăm tức là Lạc Long Quân; Lạc Long Quân thay cha để
trị nước, c̣n Kinh Dương Vương th́ không biết đi đâu. Lạc Long
Quân dậy dân ăn mặc, bắt đầu có trật tự về quân thần, tôn ty, có
luân thường về phụ tử, phu phụ; hoặc có lúc đi về thủy phủ nhưng
trăm họ vẫn được yên ổn. Dân lúc nào có việc cần thời kêu Lạc
Long Quân: “Bố đi đằng nào, không đến mà cứu chúng ta”, th́ Lạc
Long Quân lập tức đến ngay, uy linh cảm ứng không ai có thể trắc
lượng được.
Đế Nghi
truyền ngôi cho Đế Lai cai trị phương Bắc; nhân khi thiên hạ vô
sự, sực nhớ đến chuyện ông nội là Đế Minh nam tuần gặp được tiên
nữ Đế Lai bèn khiến Xi Vưu tác chủ quốc sự mà nam tuần qua nước
Xích Quỷ thấy Long Quân đă về thủy phủ, trong nước không vua,
mới lưu ái thê la Âu Cơ cùng với bộ chúng thị thiếp ở lại hành
tại. Đế Lai chu du khắp thiên hạ, trải xem tất cả h́nh thể,
trông thấy kỳ hoa, dị thảo, trân cam dị thú, tê tượng, đồi mồi,
kim ngân, châu ngọc, hồ tiêu, nhũ hương, trầm đàn, các loại sơn
hào hải vị, không thứ nào là không có; khí hậu bốn mùa lại không
nóng không lạnh, Đế Lai ái mộ quá, quên cả ngày về.
Nhân
sẵn về nên mới đem nhau kêu rằng: “Bố ở phương nào nước nam khổ
về sự phiền nhiễu, không yên ổn như xưa, đêm ngày mong đợi Long
Quân, nên mau về cứu nhân dân”.
Lạc Long
Quân bỗng nhiên lại về, thấy nàng Âu Cơ ở một ḿnh dung mạo đẹp
lạ lùng, yêu quá mới hóa ra một chàng trai nhi lang phong tú mỹ
lệ, tả hữu thị tùng đông đảo, tiếng đàn ca vang đến hành tại. Âu
Cơ trông thấy mà ḷng cũng ưng theo; Long Quân bèn rước nàng về
núi Long Trang. Đế Lai về không thấy Âu Cơ bèn sai quân thần t́m
khắp thiên hạ. Long Quân có thần thuật, biến hiện trăm cách, nào
là yêu tinh quỷ mị, nào là long xà hổ tượng, kẻ đi t́m úy cụ,
không dám lục đảo tận cùng. Đế Lai trở về Bắc lại truyền ngôi
cho Đế Du Vơng. Du Vơng truyền lại cho Xi Vưu cùng với Hoàng Đế
đánh nhau ở Bản Truyền và Trác Lộc không hơn nên tử trận. Họ
Thần Nông biến mất.Âu Cơ ở với Lạc Long Quân, sinh ra một bọc
trứng, cho là điềm không hay nên bỏ ra ngoài đồng nội; hơn bảy
ngày, trong bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một con trai,
bà đem về nuôi nấng, không phải cho ăn, cho bú mà tự nhiên
trường đại, trí dũng song toàn, ai cũng uy phục, bảo nhau đó là
những anh em phi thường.
Long Quân
ở lâu dưới Thủy Phủ; mẹ con ở một ḿnh, nhớ về Bắc quốc liền đi
lên biên cảnh; Hoàng Đế nghe tin lấy làm sợ mới phân binh ngày
đêm trấn ngự quan tái; mẹ con không về Bắc được, đêm ngày gọi
Long Quân “Bố ở phương nào làm cho mẹ con ta thương nhớ!” Long
Quân hốt nhiên lại đến, gặp mẹ con ở
Tương Dă. Âu Cơ nói:
-Thiếp vốn
người Bắc, cùng ở một nơi với quân, sinh được một trăm trai mà
không có ǵ cúc dưỡng, xin cùng theo nhau chớ nên xa bỏ, khiến
cho ta là người không chồng không vợ, một ḿnh ṿ vơ.Lạc Long
Quân bảo:
-Ta là
loài rồng, sinh trưởng ở thủy tộc; nàng là giống Tiên, người ở
trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hợp lại mà
có con, nhưng phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà
ở cùng nhau trường cửu. Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi
trai về thủy phủ phân trị các xứ, năm mươi trai theo nàng ở trên
đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng
có việc ǵ th́
cùng nghe, không được bỏ nhau.
Trăm trai
đều nghe mệnh, rồi mới từ giă ra đi. Âu Cơ cùng với năm mươi
người con trai ở tại Phong Châu (bây giờ là huyện Bạch Hạc), tự
suy tôn người hùng trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, quốc
hiệu là Văn Lang; về bờ cơi của nước th́ Đông giáp Nam Hải, Tây
đến Ba Thục, Bắc giáp Động Đ́nh Hồ, Nam đến nước Hồ Tồn (bây giờ
là nước Chiêm Thành), chia trong nuớc làm mười lăm bộ là: Giao
Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Vũ
Định, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật
Nam, Quế Lâm, Tượng Quận, sai các em phân trị, đặt em thứ là
tướng vơ, tướng văn; tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng vơ gọi là
Lạc Tướng; con trai vua gọi là Quan Lang, con gái gọi là Mỵ
Nương, quan Hữu Ty gọi là Bố Chính, thân bộc nô lệ gọi là nô tỳ,
xưng thần là khởi, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo,
thay đời truyền cho nhau đều hiệu là Hùng Vương không đổi.
Dân ở rừng
núi xuống sông ng̣i đánh cá, thường bị giao long làm hại nên
bạch với vua. Vua bảo rằng:
- Ở núi là
loài rồng cùng với thủy tộc có khác, bọn chúng ưa đồng mà ghét
dị cho nên mới xâm hại.
Bèn khiến
lấy mực châm h́nh trạng thủy quái ở thân thể, từ đó tránh được
nạn giao long cắn hại; cái tục văn thân của Bách Việt thực khởi
thủy từ đấy.
Ban đầu
quốc dân ăn mặc chưa đủ, phải lấy vỏ cây làm áo mặc, dệt cỏ ống
làm chiếu nằm; lấy gạo cất làm rượu, lấy cây quang lang, cây soa
đồng làm bánh; lấy cầm thú, cá tôm làm nước mắm, lấy rễ gừng làm
muối; lấy dao cầy, lấy nước cấy đất trồng gạo nếp, lấy ống tre
thổi cơm, lấy cây làm nhà để tránh nạn hổ lang; cắt ngắn đầu tóc
để tiện việc vào rừng núi, con đẻ ra lót lá chuối cho nằm; nhà
có người chết th́ giă cối gạo cho hàng xóm nghe mà chạy đến cứu
giúp; trai gái cưới nhau trước hết lấy muối làm lễ hỏi, rồi sau
mới giết trâu để làm lễ thành hôn, đem cơm nếp vào trong pḥng
cùng ăn với nhau cho hết, rồi sau mới tương thông; lúc bấy giờ
chưa có trầu cau nên phải thế.
Bách Nam
là thủy tổ của Bách Việt vậy.
Ư
Nghĩa
Qua Huyền
Sử Hồng Bàng, dân tộc ta có truyền thuyết về nguồn gốc
Người Việt là Con
Rồng Cháu Tiên.
Như đă
tŕnh bầy ở trên, huyền thoại dân tộc là lời gửi gấm sâu xa về ư
nghĩa nhiều hơn sự kiện.
Tiên và Rồng là hai biểu tượng chỉ
Hai Linh Lực
của cuộc sống.
Hai sức sống ngược chiều nhau như Tiên và Rồng trong huyền thoại,
ví von như Tiên ở trên núi, Rồng gốc dưới nước. Hai sức đối
nghịch không giống nhau được, như Hữu -Vô, Tán- Tụ, Tử- Sinh,
Tâm-Vật, Lư-T́nh v.v…Sự mâu thuẫn phải gây ra ly biệt, cho nên
sự chia tay của Lạc Long Quân và Âu Cơ là sự chia tay tất yếu
của lư trí khi nh́n ở sự cách ly của vạn hữu. V́, Lư Trí là Phân
Biệt.
Thật thế,
nếu ta thử ngắm nh́n ngoại giới với giác quan thông thường ta sẽ
thấy vạn vật rơ ràng phân biệt với hai khuynh hướng cực kỳ khác
biệt: Thế giới cụ thể này quả thực là có; có xác thân với bao là
nhu cầu cần thỏa măn, có cảm xúc mừng giận buồn vui với tất cả
chấn động của thân tâm; có mùa trăng hạ huyền, có hương táo nồng
nàn…Nhưng rồi tất cả những đọng ngừng tưởng chừng như có thật ấy
rồi cũng trôi qua. Không níu giữ được măi, nên con người mới vỡ
lẽ ra cái hư vô đă ẩn tàng nơi sự vật , nơi kết tụ mong manh đă
ngầm chứa sự biệt ly, trong sự sinh tồn đă có lưỡi hái huỷ diệt.
Ư thức về hai sức mâu thuẫn trong bản thể vạn vật làm con người
- dù mặc nhiên hay minh nhiên - xác nhận bản tính cho nó nơi
chọn lựa cách thái sinh hoạt: Nếu nhận rằng bản chất đời sống là
những ǵ hữu hạn, cụ thể, thoả măn những giá trị mà giác quan có
thể kiểm nhận được, người ta đi theo khuynh hướng duy vật hữu vi
một cách tích cực. Ngược lại, con người cũng có thể chọn lựa
thái độ tích cực với vô vi. Hoặc một chọn lựa dung hợp, như An
Vi chẳng hạn. Nghĩa tích cực ở đây có nghĩa là coi trọng,
nghiêng về một giá trị này và coi nhẹ giá trị khác, là đặt nổi
yếu tố đối kháng và chọn lựa dứt khoát.
Sự việc
Lạc Long Quân đề cập với Âu Cơ về các sự khác biệt, nào là: Thủy
hỏa tương khắc, phương viên bất đồng chính là ư nghĩa của cái
nh́n của Lư trí trên hiện tượng vạn vật. Lư trí là một khả năng
hữu hiệu của con người trên bứơc đường phân tán. Nó có tính sắc
bén của một con dao nên khi xử dụng lư trí trên bất cứ sự vật,
sự việc ǵ, việc đầu tiên của lư trí là chia cắt, chẻ nhỏ, cô
lập sự vật, sự việc ấy lại, nên thấy nước là nước, lửa là lửa,
làm sao không bất đồng. Chỉ đặt nổi sự khác biệt, là đặt nặng
đối kháng, tất phải chia ĺa.
Trong đời
sống, chúng ta đă biết bao lần để cho lư trí làm chủ các quyết
định, chỉ nh́n thấy sự việc một chiều. Hoặc chọn cái lợi th́
phải bỏ nghĩa, hoặc chọn ích kỷ th́ phải dứt t́nh người, hoặc
chọn sắc đẹp th́ phải quên đi phần đức hạnh, hoặc chọn danh vọng
th́ phải hy sinh chính nghĩa, hoặc chọn tâm bỏ vật, chọn vô bỏ
hữu… Như thế, có nghĩa là ta đă đi vào cái vấn nạn của câu
chuyện mở đầu huyền sử: Câu chuyện của Lư Trí, câu chuyện của
Phân Biệt, câu chuyện của sự Chia Ly, và dĩ nhiên là câu chuyện
của sự Bất An, có nước mắt, hoạn nạn, khổ đau.
Nhưng câu
chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ không dừng lại ở đây.
Quan trọng
nhất là đoạn Giải Kết cái mâu thuẫn của đời sống phân chia bởi
lư trí. Minh Triết Việt cho sự việc Âu Cơ và Lạc Long Quân cùng
đồng ư với nhau, nếu có việc cần vẫn phải gặp nhau trên
Cánh Đồng Tương,
và nghe lời nhau, không được bỏ nhau, lại là một Hóa giải mâu
thuẫn từ nền tảng của Tâm Vô Phân Biệt. Chữ T́nh được kết thúc
nơi đây thay cho Lư phải là từ giác ngộ Tâm, v́ nơi đáy nội tâm
sâu xa thăm thẳm ấy mới dung chứa được mọi sự khác biệt, mới
nh́n thấy được cái phân chia của lư trí là giả tạo, hẹp ḥi,
thiển cận. Trầm tư, tâm tư, thả lỏng ư thức bén nhậy đi, con
người mới bắt được cái Hư Không, mới trực nhận được Hư Không ấy
mới là Lẽ Thật, mới không chỉ thấy đời chỉ là phân ly, dị biệt
của từng vạn vật, mới Hội Tụ về Nhất Thể, mới t́m được suối
nguồn B́nh An, Hạnh Phúc miên viễn giữa ḷng đời.
Trong ư
nghĩa đó, Huyền thoại Tiên Rồng đă muốn nói một sự Tương Quan
giữa hai đối nghịch đều phải Kết Hợp làm một ở đích điểm của mâu
thuẫn.
Tiên Rồng
là nguồn gốc của người Việt, hay nói chính xác hơn, Tiên Rồng là
Bản Thể của vũ trụ, vạn vật và con người muôn nơi muôn thuở.
Thật thế, chúng ta thử quan sát và chiêm nghiệm mọi lẽ vận hành
trong tự nhiên hay mỗi sinh hoạt của con người đều phản ánh
nguyên lư ḥa hợp trong mâu thuẫn, tương quan trong đối lập. Vạn
sự vạn vật tự bản thể đều có rồi không, không rồi lại có. Nhưng
làm sao ta biết được là Thực Tại là có hay không. Vạn vật nương
nhau tồn tại và phân định danh phận cho nhau xuất lộ nơi từng
cặp mâu thuẫn tịnh hành: Nam-Nữ, Thiện-Ác, Tiểu-Đại, Động-Tịnh,
Ngày-Đêm…Trong sự tương đối ấy, mọi sự mâu thuẫn đều là điều
kiện của nhau. Có xác định người nam th́ mới có tiêu chuẩn y cứ
mà cho rằng người kia là nữ. V́ cho rằng có điều gọi là thiện
th́ mới gọi điều ngược lại là ác. Có vật cho là nhỏ th́ mới có
vật lớn. Không có biến động th́ làm sao có ư thức về thường tịnh.
Không có ánh sáng ban ngày th́ làm sao có bóng tối để gọi là
đêm…Cho nên, chính trong mâu thuẫn, vạn vật tự xác định cái danh
và phận của nhau, tự giúp nhau tồn tại, tự sinh ra nhau, và cũng
sẽ tự diệt với nhau. Bản chất ấy gọi là mối tương quan nền tảng.
Nếu Chân Lư là Sự Thật, th́ Mâu Thuẫn là Chân Lư, Tương Quan
Mâu Thuẫn là Chân Lư Tối Cao, Kết Hợp Mâu Thuẫn là Chân Lư Nền
Tảng. Khi Kết Giải Mâu Thuẫn cho Tiên và Rồng không được bỏ nhau,
vẫn gặp nhau ở Cánh Đồng Tương, có nghĩa là Huyền Sử Việt đă xác
tín nhận thức về Chân Lư Toàn Diện ấy. Chân lư là nơi lưu thông
những bế tắc. Chân lư là sự tương quan giữa hai chiều đối nghịch.
Chân lư là nơi giao ḥa của mâu thuẫn. Tiên tổ truyền lại bài
học về Bản Tính của vạn vật tiêu biểu trên cánh đồng Tương, nơi
gặp gỡ của hai lực đối nghịch Tiên Rồng. Cánh Đồng Tương cũng
chính là
Cánh Đồng
Tâm.
Như thế,
ta có thể gọi Rồng Tiên là Âm Dương, Sắc Không cũng cùng một ư
nghĩa như vậy. Rồng Tiên, Âm Dương , Sắc Không chính là Bản Thể
Mâu Thuẫn bất Khả Phân Ly qua ư nghĩa của Mùa Tiên Rồng Hội Ngộ
nơi Tương Dă trong Huyền Sử Việt.
Ngày nay
khoa học minh chứng trong điện, cũng có hai ḍng điện tiêu, tích.
Phân tích một nguyên tử cho biết đó chỉ là sự cấu tạo của âm
điện tử và dương điện tử. Với thuyết tương đối của Einstein
th́ hai thực thể cơ bản làm nên mọi hiện tượng vạn vật là Thời
gian và Không gian không phải là hai thực thể độc lập không có
chi liên hệ. Mà không gian và thời gian tương quan, liên kết,
có thể nói vũ trụ này chỉ là một khối Không-Thời-Liên. Trong
lănh vực y khoa, cơ thể luôn sinh ra chất đề kháng với các chất
có hại cho nó (bệnh chỉ là sự bất quân giữa các liều lượng của
chất thuận và nghịch). Hệ thống điện toán ngày nay chỉ dựa trên
sự áp dụng của hai t́nh trạng 0 và 1.
Như vậy
theo kiểu nói của ngôn ngữ nào, biểu tượng trong huyền sử, mạch
lạc trong triết lư, hay cụ thể trong khoa học, cũng đi đến những
ư nghĩa như nhau về bản thể của vạn vật, và cũng là bản chất của
con người: H̉A điệu giữa hai đối nghịch, Một mà Hai, Hai mà Một,
Mâu Thuẫn nhưng không hủy diệt, Tương khắc Tương sinh, Sắc Sắc
Không Không.
Trên chiều
hướng đó, Huyền Sử Con Rồng Cháu Tiên được hiểu như hai cột trụ
chống đỡ khung Tâm Thức con người của Minh Triết Việt. Khi Rồng
Tiên c̣n chia cách, th́ Rồng có thể biểu hiệu cho bản chất hướng
ngoại, phân chia, suy luận, lư trí, ư thức, hiển nhiên như Tâm
c̣n ở trong chốn đầm lầy tù hăm có tính chất vật thể giới hạn,
tức Rồng mới ở giai đoạn khởi đầu của tiến tŕnh Cá thể hóa của
cơi Hiện tượng, c̣n nặng phần tiểu tâm, tiểu trí của cái “ta”
nhỏ bé ở đợt hiện h́nh, ngoại diện. C̣n Tiên có thể biểu hiệu
cho bản chất hướng nội, tổng quát, trực giác, tâm tư, tiềm thức,
nhưng Tâm vẫn c̣n ở trong trạng thái mông lung, hàm hồ, đồng
nhất với cơi Vô thức.
Muốn thoát
khỏi “gọng kềm” nhị nguyên đối kháng nêu trên, là t́nh cảnh
phải “chọn một bỏ một”, hoặc một bên Ư Thức phân ly, tính toán
sắc cạnh, hoặc bên kia, Tiềm Thức hàm hồ, âm u, tăm tối, như
phải chọn hoặc Lư hoặc T́nh, một vấn nạn khó khăn, mà muốn giải
quyết, Hành giả phải tạo điều kiện cho Rồng Tiên Hội Ngộ. Được
như vậy th́ Rồng mới vùng vẫy, uốn khúc được để trở thành Rồng
Thiêng, v́ Rồng không c̣n biểu hiệu cho lư trí của ư thức cá
nhân hữu hạn nữa, mà nhờ tiếp cận với Tiên, tức nội dung của
Tiềm Thức thâm sâu nên Rồng đă trở thành Biểu Tượng của Ư Thức
Sáng Láng Về Toàn Thể Thực Tại mang tính Vô Biên. C̣n Tiên dưới
ánh sáng của Ư Thức Toàn Diện của Rồng, đă vượt qua được trạng
thái “vô phân biệt” Nguyên thủy của trạm Quỳnh Hư của cơi Tiềm
Thức mông lung để bước vào điện GIAO QUANG của miền TÂM LINH
SIÊU TUYỆT.
Rồng Phải Hội
Ngộ cùng Tiên
trong Ư Nghĩa con người với cái “ta” Ngoại Diện thuộc về Lư Trí
Hiện Tượng có khuynh hướng liên hợp với cái “TA” uyên áo của Nội
Tâm sâu thẳm. Rồng không c̣n là Rồng nữa với xác thân hữu hạn,
mà đă “Siêu Việt” để trở thành Rồng Thiêng khi tiếp cận Giấc Mơ
Tiên. Cũng tương tự, Tiên cũng rộn ràng đam mê nhiệt đới, cũng
không thể khước từ trái Táo địa đàng. Tâm Thức Rồng Tiên là Tâm
Thức Toàn Diện của Cơ Cấu Uyên Nguyên. Cá nhân chỉ Trọn Vẹn Hóa
trong Tương Quan, Thống Nhất với Toàn Diện Tính của Bản Thể Rồng
Tiên. Trong tất cả những đa đoan của đời sống chẳng qua chỉ là
một trường thử nghiệm của khuynh hướng t́m về chính Ḿnh, Bản
Tính Liên Hợp, có nước mắt của chia xa và niềm hân hoan hạnh ngộ.
Nói một cách khác, Chân Lư Rồng Tiên ẩn tàng nơi Tương Dă chính
là Lời Hẹn của T́nh Yêu giữa Đạo với Đời. Cho nên Đạo Mới Không
Xa Đời.
Huyền Sử
Tiên Rồng c̣n gửi lại ư nghĩa thêm nữa trong việc Mẹ Âu Cơ sinh
được 100 trứng trong một bọc, sau này 50 con ở lại với mẹ và 50
con theo cha xuống biển. Bọc đây phải là
Bọc Tâm Linh . Bọc Tâm Linh
nên ôm ấp chân lư tṛn đầy, chân lư kết hợp, ḥa tan mọi mâu
thuẫn của thế giới hiện tượng phân biệt, Chân lư Ḥa Hợp, bất
khả phân ly của Đạo Thể Viên Dung. Một trăm ở đây cũng là biểu
tượng cho sự toàn vẹn của mỗi khả thể, 100 là cái toàn thể, toàn
thiện của chân lư. Chân lư không để phần tử nào phải lẻ loi cô
độc. Chân lư là tṛn đầy. Chân lư như là tổng số 100.
Đi vào thể
dụng của chân lư, Tiên Rồng với bọc trăm trứng giúp cho người
Việt cảm thấy gần gũi nhau hơn trong ư nghĩa đều là cùng một
bụng mẹ Âu Cơ, cùng phải thân yêu, đùm bọc lẫn nhau, kết quả là
ta có chữ đồng bào (cùng một bọc) để gọi nhau. Và, gọi người cai
quản sinh hoạt xă hội bằng “bố”, một từ mà sau này người Việt
dùng để gọi cha ruột thịt của ḿnh. Một h́nh ảnh thân yêu và gần
gũi giữa người một nước coi nhau là con một bọc của mẹ, dân gọi
vua âu yếm và tin tưởng như cha, ta thấy một dân tộc có tŕnh độ
văn hóa cao siêu và nhân bản đă biểu hiện qua Huyền sử Tiên Rồng
một cách thơ mộng mà thiết thực như thế là cùng! C̣n có một nền
nhân bản nào cao siêu hơn?
Chúng ta
hăy t́m hiểu các nền văn minh trên thế giới. Tây phương khởi
nguồn từ văn minh Hy Lạp, mà theo đó, con người là con cháu của
các thần thánh hung dữ và độc ác, đầy đủ thói hư tật xấu của
trần gian. Con người v́ vậy rất sợ hăi sự thịnh nộ và trừng phạt
của các thần, nên giới thống trị dựa vào sự tin tưởng ấy để đưa
đến một xă hội phi nhân bản, phân chia giai cấp, điển h́nh là
chế độ nô lệ. Tổ sư triết học Tây phương là Socrate, Platon,
Aristote đă chấp nhận và bênh vực cho chế độ nô lệ. Rồi sau đó
kỹ thuật tiến dần th́ chế độ nô lệ băi bỏ, chứ không do một lư
tưởng cao đẹp nhân chủ b́nh đẳng nào hô hào băi bỏ. Ấn Độ cũng
không hơn ǵ. Niềm tin vào thần thánh khiến sự phân chia giai
cấp v́ lư do sanh bởi chân tay của thần thánh th́ phải làm nô
bộc cho giai cấp sanh từ đầu của thần thánh, rốt cuộc đại đa số
dân chúng làm nô bộc cho một thiểu số tư tế và quư tộc. Ta thử
xem bảng thống kê về sự băi bỏ nô lệ, mới chỉ xẩy ra chưa bao
lâu: Hoa Kỳ băi bỏ nô lệ năm 1808, Anh 1833, Pháp 1845, Bồ Đào
Nha 1856.
Trở lại Ư
Nghĩa Huyền Sử trên, Tiên Rồng c̣n măi măi ly biệt, khi đời c̣n
theo quan niệm chia cắt Thực Tại Toàn Diện bằng cái nh́n của Lư
Trí, như những thuyết Duy vật, Duy tâm, Duy Một Chiều Kích. Tiên
Rồng chỉ được Hội Ngộ khi con người nhận thức Chân Lư Hai Chiều
Toàn Diện của cuộc Nhân Sinh. Hay nói cách khác, Huyền Sử Tiên
Rồng đă đưa ra 3 mệnh đề : Chính Đề là Hiện Tượng Mâu Thuẫn,
Phản Đề là Lư Trí Phân Ly, Tổng Đề là Tâm Linh Vô Phân Biệt, qua
sự việc Tiên Rồng chia tay rồi hội ngộ nơi Cánh Đồng Tương .
Tóm lại,
qua Huyền sử Con Rồng Cháu Tiên của Việt Đạo, bài học đơn giản
mà ta có thể nhận ra ngay là: “Ngoài
th́ là Lư, nhưng trong là T́nh”. Sâu xa hơn nữa, đây
là một Biện Chứng Tâm Linh Tổng Hợp Chân Thực Hiện Tượng và Bản
Chất của nền MINH TRIẾT UYÊN NGUYÊN
của Dân Tộc.
Đông Lan
[Trang
Chủ] [Tác
Giả]
[Lănh Vực]
|
|
VIỆC SỬ DỤNG BÀI VỞ CỦA DIỄN ĐÀN CHO
MỤC TIÊU HỌC THUẬT KHÔNG HẠN CHẾ,
XIN GHI RƠ NGUỒN "MINHTRIETVIET.NET"VÀ
KHÔNG ĐƯỢC PHÉP SỬA ĐỔI VĂN BẢN |
|
|